Chương 6: Nút dây thứ ba
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Tôi quay lại nhà ông Tửu vào trưa hôm sau. Lần này tôi mang theo một chai rượu trắng, lấy trộm trong chạn của u.
Ông Tửu nhìn chai rượu, rồi nhìn tôi, cười khẩy.
"Thằng ranh. Giống bố mày y đúc."
Nhưng ông vẫn rót ra chén. Ông uống ba chén, không nói câu nào. Uống xong chén thứ ba, ông đứng dậy, lấy chùm chìa khoá trên đinh, dẫn tôi sang gian kho của đình.
Gian kho tối, ẩm, sặc mùi bụi và mùi dầu hoả cũ. Ở đây cất đủ thứ của đoàn: trống chèo bục mặt, phông cảnh cuộn tròn, mấy cái hòm gỗ đựng mũ mão, áo the, quạt giấy. Ở góc trong cùng có mấy cây tre già đã đen, dài cả trượng, gác lên hai cái mễ.
"Giàn năm ấy đấy," ông Tửu nói. "Tháo ra rồi không ai dám dùng lại. Cũng không ai dám đốt."
Ông cúi xuống một cái hòm nhỏ dưới chân mễ, mở khoá, lấy ra một cuộn dây chão. Dây gai, to bằng ngón tay cái, đã ngả màu nâu sẫm. Ông đặt nó vào tay tôi. Nặng hơn tôi tưởng.
"Mày xem nó có mục không?"
Tôi lật cuộn dây. Dây còn chắc, sợi gai bện chặt, tôi lấy hai tay giật cũng không suy suyển. Gần một đầu có một chỗ dây bị gập, nhăn nhúm, như từng bị thắt nút rất lâu rồi mới gỡ ra.
"Dây này tao mua ở chợ Phát Diệm, ba hôm trước khi con Thắm chết. Bốn sợi, buộc bốn góc gác chuông. Hôm nó ngã, ba sợi còn buộc trên giàn. Sợi này thì không đứt. Nó tuột. Nó buông thõng từ giàn xuống, đầu dây còn nguyên."
Tôi nhìn chỗ dây nhăn nhúm. Ông Tửu đưa ngón tay chỉ vào.
"Nút ghẻ. Nút này đứng không thì chắc, giật một cái thì tuột. Người làm giàn ai cũng biết. Tao biết. Ông Hiển biết. Bố mày cũng biết."
"Thế đoạn dây mục ông Hiển đưa công an?"
"Dây cũ trong kho. Ông ấy lấy dao cứa rồi vò cho tưa. Tao nhìn là biết."
Tôi hỏi sao ông không nói. Ông Tửu cầm lại cuộn dây, cuộn tròn, cất vào hòm, khoá lại. Ông làm từ từ, như để có thời gian nghĩ.
"Tao năm ấy bốn mươi tám tuổi, có năm đứa con. Ông Hiển là người của huyện. Tao nói thì ai tin? Tao cất sợi dây đi, mười bốn năm, mỗi lần mở kho tao lại nhìn cái hòm này."
Ông khoá cửa kho, đứng ở bậc hiên, nhìn ra sân.
"Còn bố mày. Sáng hôm ấy bố mày đến đình trước tao. Bố mày thấy gì, mày đi mà hỏi bố mày."
Tôi về nhà, hai tay vẫn còn mùi dây gai, rửa mấy lần không hết. Bữa cơm chiều, u tôi kể cho bà Gái nghe chuyện sang Cồn Nhì. Bố tôi ngồi ở mâm, đầu đội khăn mỏ quạ, cầm đũa tay phải, ăn từng miếng nhỏ. U kể cả câu hát bà Khúc đọc cho u nghe. Lúc u đọc đến câu ấy, bố tôi ngừng nhai.
Đêm ấy bố tôi biến mất.
U tôi tỉnh dậy lúc gà gáy đợt đầu, thấy phản trống. Cửa ngõ mở toang. U vớ cái đèn bão, lay tôi dậy, hai mẹ con chạy ra ngõ. Bà Gái nghe tiếng cũng chạy theo. Chúng tôi tìm ở đình trước, đình khoá. Ra bờ ao, không có. Rồi tôi nghe tiếng hát vọng lại từ phía đê.
Bố tôi đứng giữa bãi cói. Trăng hạ tuần mờ, cói cao ngang lưng ông, lay lay trong gió. Ông đứng quay mặt về phía biển, phía Cồn Nhì. Cái khăn mỏ quạ đã tuột khỏi đầu, ông cầm trong tay, buộc lên đầu rồi lại tháo ra, buộc lên rồi lại tháo ra. Hai bàn tay ông đầy vết cứa của lá cói, máu chảy thành vệt đen xuống cổ tay.
Ông đang hát.
"Cồn Nhì cói mọc ngang lưng..."
Hát đến đấy thì ông ngừng. Ông há miệng, như cố tìm chữ tiếp theo. Rồi ông hát lại từ đầu.
"Cồn Nhì cói mọc ngang lưng..."
Lại ngừng. Lại hát lại. Giọng ông lúc là giọng cô Thắm, lúc vỡ ra thành giọng ông, khản đặc. Tôi đứng ở bờ đê, đèn bão trong tay u rọi xuống bãi, và tôi hiểu một điều mà tôi không muốn hiểu: ông không biết câu dưới.
Cô Thắm biết câu dưới. Bà Khúc bảo, nếu nó về thật, nó sẽ hát câu dưới.
U tôi lội xuống bãi cói. U không gọi tên ông, cũng không gọi cô Thắm. U chỉ đi đến, nắm lấy hai bàn tay đầy máu của ông, giữ chặt.
Bố tôi nhìn u. Một thoáng, chỉ một thoáng thôi, mắt ông là mắt bố tôi, nheo nheo, ướt, như mắt người sắp khóc.
"Hoà ơi..."
Chỉ có thế. Giọng của ông, khàn và mệt, như người đi đường xa về gọi cửa. U tôi siết tay ông. U không hỏi gì cả. Có lẽ u cũng đang nghĩ cái điều tôi đang nghĩ mà không dám nói ra: nếu không phải cô Thắm thì ai đang hát trong bố tôi suốt mấy hôm nay.
Rồi gió đổi chiều. Gió từ biển thổi vào, lạnh buốt, mang mùi dầu hoả. Không phải mùi bùn, không phải mùi muối. Mùi dầu hoả đốt măng-sông, ngay giữa bãi cói không có một ngọn đèn nào.
Bố tôi rụt tay khỏi tay u. Ông đứng thẳng lên, cổ ngửa ra sau, như có ai giật một sợi dây sau gáy. Cái khăn trong tay ông rơi xuống ngọn cói.
Khi ông cúi xuống nhặt, ông nhặt bằng tay trái.