Chương 2: Lời kiêng của già làng
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Sáng hôm sau tôi lên Kon Rơ Pang một mình. Tuấn nói nó phải ghi sổ tuần tra tháng, để tôi đi. Tôi biết nó không muốn lên làng, nhưng tôi không hỏi.
Làng nằm trên một sống đồi thoải, nhà sàn mái tôn lẫn mái tranh xếp quanh cái nhà rông mái cao vút như lưỡi rìu. Mùa khô, đất sân bạc phếch, gió thổi bụi đỏ bám lên cả lá chuối. Chuồng trâu ở cuối làng, quây bằng cây le và dây rừng. Hơn ba chục con trâu đứng chen nhau trong đó, ăn rơm khô người ta ôm ra. Thấy tôi đến gần, cả đàn dạt vào một góc, mắt trắng dã.
Tôi tìm nhà Y Hlai. Chị góa chồng đã mấy năm, nuôi hai đứa con. Thằng lớn Y Đêl mười hai tuổi, gầy, tóc cháy nắng, ngồi trên sàn nhà vót tên nỏ. Tôi ngồi xuống cạnh nó, hỏi chuyện tối hôm kia.
Nó không nhìn tôi, nói trong khi tay vẫn vót.
"Con đi kiếm con trâu cái. Nó lạc xuống suối. Trăng sáng. Con thấy bà đứng trong rừng khộp."
"Bà đứng làm gì?"
"Đứng. Rồi đi. Đầu cao tới đây."
Nó giơ con dao lên chỉ ngọn cây xoài trước sân.
"Tóc dài. Tóc thả xuống đằng trước, tới đất. Nó đung đưa vậy nè."
Thằng bé lắc lắc bàn tay trước mặt mình.
"Váy đen. Váy rộng lắm."
Tôi hỏi nó có thấy mặt không. Nó lắc đầu. Tóc che hết rồi. Tôi hỏi bà có nói gì không. Y Đêl ngừng tay. Lần đầu tiên nó nhìn tôi.
"Không nói. Mà ngực con nó rung. Như cái máy cày ở xa. Ù ù ở trong này." Nó đặt tay lên giữa ngực. "Con trâu cái nghe thấy là chạy. Chạy về tới chuồng luôn."
Y Hlai đang giã gạo dưới gầm sàn, nghe con nói thì gọi nó xuống. Chị nói với tôi bằng tiếng Kinh lơ lớ, giọng nhỏ.
"Anh kiểm lâm đừng hỏi nữa. Nói nhiều bà nghe. Bà buồn."
Tôi đi lên nhà rông. Già làng A Pưl ngồi bên bếp lửa giữa nhà, một mình, ống điếu tre ngậm trên môi. Ông ngoài bảy mươi, người khô và đen như gốc cây cháy. Ông biết tôi. Năm nào tôi cũng lên đây uống rượu ghè đầu mùa rẫy.
Tôi ngồi đối diện ông, kể chuyện vết chân tròn và nước suối. Ông nghe hết, gõ ống điếu vào cạnh bếp. Lúc ông đưa tay gạt tàn, tôi thấy trên cổ tay trái ông đeo một cái vòng. Không phải vòng đồng hay vòng bạc như mấy ông già khác. Đó là một vòng sợi đen bện lại, mỗi sợi to và cứng như dây cước, bóng như sừng. Tôi để ý cái vòng ấy từ mấy năm trước nhưng chưa bao giờ hỏi.
"Người Kinh không biết," ông nói. "Để già nói cho nghe ba điều. Nhớ."
Ông giơ một ngón tay.
"Một. Bà đi qua thì không kêu tên bà. Ở trong rừng không kêu tên. Ở trong làng cũng không. Kêu là bà quay lại tìm người kêu."
Tôi hỏi bà tên là gì. Ông nhìn tôi như nhìn một đứa trẻ hỏi câu ngu.
"Hai. Không đốt lửa trên đường bà đi. Bà sợ lửa. Bà sợ khói súng."
Ông giơ ngón tay thứ ba, rồi nói chậm hơn.
"Ba. Đừng lên đầu nguồn Đăk Wơ. Chỗ đó bà nằm lâu rồi. Đi lên đó, bà tưởng người ta lên lại."
Tôi hỏi người ta là ai, lên lại làm gì. Già A Pưl không trả lời. Ông với lấy ống bương nước, rót ra cái chén sành, uống từng ngụm nhỏ. Lửa trong bếp lách tách. Gió từ ngoài lùa qua vách nứa, kéo khói cuộn lên mái.
Tôi hỏi ông làng mình có ai chết ở đầu nguồn không. Đàn bà. Năm ngoái hay năm kia.
"Người làng không ai chết ở đó."
"Vậy bà là ai?"
Già làng đặt chén xuống.
"Bà ở rừng. Bà có trước làng."
Tôi về trạm lúc quá trưa, trong đầu lộn xộn. Kiểm lâm ở Tây Nguyên phải biết tôn trọng chuyện kiêng của làng, nhưng sổ sách ở hạt chỉ có mục phá rừng, săn bắt, cháy rừng. Không có mục nào cho một người đàn bà cao hơn cây.
Tuấn ngồi ở bàn, cuốn sổ tuần tra mở trước mặt, cây bút bi nằm yên. Tôi kể lại ba điều già làng dặn. Nó nghe đến điều thứ ba thì gập sổ.
"Già nói đúng đó anh. Đừng lên đầu nguồn."
"Em lên đó rồi hả?"
"Lên rồi. Năm ngoái."
Nó nói vậy rồi đứng dậy đi ra giếng múc nước. Tôi nhìn theo lưng nó. Năm ngoái mùa khô, tôi về quê hơn một tháng vì má tôi mổ, trạm để một mình Tuấn trực. Tôi về thì mùa mưa đã tới, rừng xanh lại, mọi chuyện bình thường. Tuấn không kể gì.
Tối đó chúng tôi ăn cơm với cá khô và rau rừng. Tuấn ăn ít. Lúc dọn mâm, nó nói như nói chuyện thời tiết:
"Mai em đi tuần một mình nha anh. Phía bắc thôi. Anh ở trạm nghe điện thoại hạt."
Tôi gật. Tôi không nghĩ gì. Tuấn đi tuần một mình là chuyện thường.
Nửa đêm tôi tỉnh dậy vì khát. Tôi bước ra hiên. Trăng gần rằm, sân trạm trắng như rắc vôi. Cái xe Win của Tuấn không còn dựng dưới gốc me.
Trên nền đất sân, ngay chỗ bánh xe vừa lăn ra cổng, có một vết tròn to bằng cái nia, mới tinh, bụi đất còn chưa kịp lắng.