☾ Truyện Ma Có Thật
← Vết chân tròn sau rừng khộp

Chương 3: Chiếc xe bỏ bìa rừng

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Tôi không ngủ lại được. Tôi ngồi trên hiên tới sáng, đèn pin trong tay, nhìn cái vết tròn giữa sân. Con Mực, con chó đen trạm nuôi từ nhỏ, nằm rúc dưới gầm giường trong phòng Tuấn, gọi thế nào cũng không ra.

Sáu giờ, Tuấn chưa về. Tôi gọi điện thoại cho nó, máy báo không liên lạc được. Ở đây sóng chập chờn, ra khỏi trạm vài trăm mét là mất. Chuyện đó cũng thường. Tôi tự nhủ nó dậy sớm đi tuần, quên nói. Nhưng Tuấn chưa bao giờ đi tuần lúc nửa đêm.

Tám giờ, tôi lấy xe lên làng. Y Bia, má Tuấn, đang phơi mì lát trên sân. Nghe tôi hỏi, bà đứng sững, mấy lát mì trắng rơi khỏi rổ.

"Thằng Tuấn không về nhà. Lâu rồi không về."

Tôi nói chắc nó đi tuần, tôi chỉ hỏi cho chắc. Bà không tin. Bà nhìn qua vai tôi về phía rừng khộp, môi mấp máy một câu tiếng Xơ Đăng tôi không hiểu.

Tôi gọi A Đinh, dân quân của làng, ba mươi tuổi, to con, hay đi rừng cùng trạm mỗi lần có vụ chặt gỗ. Hai đứa chở nhau đi về phía bắc, theo con đường mòn Tuấn hay đi tuần. Đường mòn đầy lá khô, có vết bánh xe cũ, không có vết mới. Đi hết một tiếng, không có gì.

Quay ra, A Đinh nói đi phía tây thử. Tôi hỏi sao. Nó nói thằng Tuấn từ nhỏ hay xuống suối Đăk Wơ. Nói xong nó ngó lơ chỗ khác, như lỡ miệng.

Chúng tôi tìm thấy chiếc Win ở bìa rừng khộp, chỗ con đường đất đỏ hết, phía trên bãi trâu chừng một cây số. Xe dựng nghiêng vào gốc một cây cà chít, chìa khóa còn cắm trong ổ. Cái gùi nhỏ Tuấn hay buộc sau yên không còn. Bình xăng gần cạn.

Tôi đi một vòng quanh xe. Đất ở đây cứng, lá khô phủ kín, khó đọc dấu. Nhưng gần gốc cây, chỗ đất trống, tôi thấy dấu đế giày. Giày cao su, đế răng cưa, loại giày bộ đội Trung Quốc người ta bán ngoài chợ huyện. Hai cỡ khác nhau. Tuấn đi dép quai hậu, cả trạm ai cũng biết.

A Đinh nhặt dưới gốc cây lên một cái vỏ bao thuốc lá bị vò nát. Chữ ngoằn ngoèo như con giun. Thuốc Lào, loại người buôn bên kia biên giới hay mang qua.

Rồi tôi thấy các vết tròn.

Chúng không đi thành hàng như dưới suối. Chúng nằm quanh chiếc xe, cách xe chừng hai bước, xếp thành một vòng cung. Như có cái gì rất lớn đã đứng đây, xoay quanh chiếc xe một lượt, chậm rãi. Lá khô trong vòng ấy bị nghiền nát vụn thành bột. Lá bên ngoài còn nguyên.

A Đinh đứng ngoài vòng, không bước vào. Nó nói nhỏ:

"Bà đứng đây lâu. Bà chờ."

"Chờ ai?"

Nó lắc đầu, ra hiệu cho tôi đừng nói nữa.

Tôi dắt xe về, leo lên đồi sau trạm tìm sóng để gọi về hạt. Hạt trưởng là anh Toàn, người Bình Định, làm kiểm lâm hai chục năm. Tôi kể Tuấn mất tích, có dấu giày lạ, có bao thuốc bên kia. Tôi không kể chuyện vết tròn. Không biết nói thế nào cho anh tin.

"Thằng Tuấn nó người ở đó, rừng nó rành hơn mày," anh Toàn nói, giọng qua điện thoại rè rè. "Có khi nó theo dấu bọn chặt gỗ. Chờ tới mai. Mai không về thì tao cho hai đứa lên với công an xã."

Tôi nói dấu giày là dấu người lạ. Anh Toàn im một lúc.

"Ừ. Mày đừng đi một mình. Nghe chưa."

Chiều tối, tôi ngồi một mình ở trạm. Con Mực đã chịu bò ra, nhưng cứ quấn lấy chân tôi, tai cụp. Tôi khóa cửa trước, khóa cửa sau, cài thêm cái chốt gỗ. Ăn qua loa bát cơm nguội rồi nằm trên giường, đèn pin để sẵn bên gối, con dao đi rừng dựng ở đầu giường.

Gần khuya, tiếng dế ngoài sân tắt.

Không tắt dần. Tắt cùng một lúc, như có ai rút phích điện. Con tắc kè trên mái đang kêu dở cũng nín. Chỉ còn tiếng gió lùa qua khe tôn.

Rồi mùi tanh tràn vào phòng. Mùi sắt gỉ, mùi ngọt lợ, giống hệt mùi nước dưới suối Đăk Wơ, nhưng đặc hơn, ấm hơn. Như có người vừa mở một cái thùng thịt sống ngay bên vách.

Con Mực rên một tiếng nhỏ trong cổ họng rồi chui tọt xuống gầm giường.

Tôi nằm im. Tôi cảm thấy nó trước khi nghe thấy nó. Một tiếng ù rất trầm, không phải ở tai, mà ở ngực, ở hai bên thái dương, dưới hai bàn chân đặt trên chiếu. Giống thằng Y Đêl tả. Như cái máy cày nổ máy ở tít đồi bên kia, nhưng cái máy cày ấy lại ở ngay sau vách.

Ánh trăng lọt qua khe cửa sổ bị che mất. Cả căn phòng tối sầm lại trong mấy nhịp thở. Có cái gì đứng ngoài cửa sổ, lớn đến mức che hết vầng trăng.

Tôi không cử động. Tay tôi lạnh ngắt trên cán đèn pin mà không dám bật.

Rồi bức vách sau lưng tôi rung lên. Cái gì đó đang cọ vào tường nhà, chậm, nặng, từ đầu này sang đầu kia. Mái tôn kêu răng rắc. Cái lịch treo tường rơi xuống nền. Cái bóng tối ngoài cửa sổ trượt qua, rồi ánh trăng trở lại.

Tiếng ù dừng lại ở ngay trước cửa chính. Và ở đó, nó không đi nữa.