☾ Truyện Ma Có Thật
← Vết chân tròn sau rừng khộp

Chương 4: Vòng dấu quanh trạm

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Tôi ngồi trên giường tới khi gà rừng sau đồi gáy. Mùi tanh nhạt dần rồi mất. Tiếng dế trở lại từng con một, rụt rè, như người đi đêm thử gọi nhau. Khi khe cửa đã sáng hẳn, tôi mới rút chốt.

Ngay bậc thềm, sát mép cửa, có một vết tròn. Vết này sâu hơn mọi vết tôi đã thấy, đất sân nện cứng mà lún xuống gần một gang tay. Như thứ đứng đây đã dồn hết sức nặng của nó vào một chân, rất lâu, mặt hướng vào cửa.

Tôi bước ra sân và đi một vòng quanh trạm.

Các vết tròn chạy quanh nhà, sát chân tường, khép kín thành một vòng. Không sót một mặt nào. Đi qua giếng, qua bể nước, qua cái chuồng gà bỏ không, vòng qua gốc me rồi về lại thềm. Gà trong chuồng không có, chứ có chắc đã chết hết vì sợ. Ở phía hông nhà, chỗ cửa sổ phòng tôi, bức tường gạch tô vữa có một vệt bùn đỏ quệt ngang, dài hơn một sải tay, cao quá đầu tôi. Tôi kiễng chân cũng không với tới mép trên của nó.

Vết bùn đã khô, nứt nẻ. Tôi đưa tay lên sờ. Bùn đất đỏ lẫn cát trắng. Loại bùn chỉ có ở lòng suối Đăk Wơ.

Mắc vào cái đinh đóng khung cửa sổ có một sợi lông. Tôi gỡ xuống. Nó dài gần bằng gang tay rưỡi, đen tuyền, to như sợi cước câu cá, cứng tới mức tôi uốn cong rồi thả ra, nó bật thẳng lại ngay. Không phải tóc người. Tôi chưa từng thấy con thú nào có sợi lông như vậy. Nhưng tôi đã thấy nó ở đâu đó rồi.

Từ chỗ vòng dấu khép lại ở thềm, một hàng vết tròn tách ra, đi thẳng về phía tây. Về phía rừng khộp. Về phía Đăk Wơ.

Gần trưa, anh Toàn gửi lên hai người là Phong với Sang, hai kiểm lâm trẻ ở hạt, đi cùng một anh công an xã. A Đinh dẫn thêm năm thanh niên trong làng. Chúng tôi chia làm ba toán, lục suốt buổi chiều quanh chỗ tìm được chiếc xe. Dấu giày cao su đi được một đoạn thì mất trên nền đá ong. Các vết tròn cũng vậy, đi vào một trảng đá ong rộng, đá đỏ sần như bánh tráng nướng, không giữ được dấu gì. Ra khỏi trảng thì không thấy chúng ở đâu nữa.

Phong nhìn vết tròn đầu tiên ở bìa rừng, cười cười, hỏi tôi có phải dân làng lấy cái cối giã gạo đóng xuống để dọa kiểm lâm không. Không ai trong đám thanh niên cười theo. Anh công an xã đo vết bằng cái thước dây, ghi vào sổ, rồi lặng lẽ cất thước.

Chiều về, già A Pưl đã ngồi chờ trên hiên trạm. Ông đi bộ từ làng xuống, chân trần, ống điếu trên môi. Tôi pha ấm trà, ông không uống. Tôi lấy sợi lông trong túi áo ra đưa ông xem.

Ông cầm sợi lông giữa hai ngón tay, nhìn rất lâu. Rồi ông kéo một cái lá chuối khô trong gùi ra, đặt sợi lông lên, gấp lá lại thật cẩn thận, buộc bằng một sợi lạt, cho vào gùi. Tôi nhìn cái vòng sợi đen trên cổ tay ông. Bây giờ thì tôi biết tôi đã thấy loại sợi ấy ở đâu.

"Cái vòng của già," tôi nói. "Cũng loại lông này."

Ông xoay cổ tay, như mới nhớ ra mình đeo nó.

"Cha già cho. Lâu rồi. Đeo cái này đi rừng, bà biết mình là người làng. Bà không giận."

"Bà là ai, già? Đêm qua bà đứng trước cửa trạm. Bà đi vòng quanh nhà con."

A Pưl nhìn vết bùn đỏ trên tường.

"Bà đến xin."

"Xin cái gì?"

"Xin người."

Ông đứng dậy, khoác gùi, đi về. Tới cổng, ông quay lại nói thêm một câu:

"Người Kinh hỏi nhiều. Bà không cần người hỏi. Bà cần người đi theo."

Tối đó hai cậu ở hạt ngủ lại trạm, ngủ say như chết. Không có gì đến. Sáng hôm sau họ về hạt, nói sẽ báo lên huyện tổ chức tìm kiếm lớn. Trước khi đi, Sang kéo tôi ra góc sân, hỏi nhỏ năm ngoái mùa khô Tuấn có báo vụ gì lớn về hạt không. Tôi nói tôi không ở trạm. Sang nói hạt không nhận báo cáo nào, cả mùa khô năm ngoái trạm Đăk Rơ Wa trống trơn, sạch tới mức anh Toàn còn khen.

Trưa, tôi lên làng báo cho Y Bia. Bà ngồi trên sàn, hai tay đặt trên gối, không khóc. Tôi ngồi xuống cạnh bà. Mãi một lúc bà mới nói, mắt nhìn ra rừng.

"Năm ngoái nó về một bữa. Mùa khô. Nửa đêm. Tay nó run. Run như người sốt rét."

Tôi hỏi nó có nói gì không. Bà lắc đầu.

"Nó cởi cái áo kiểm lâm. Đốt sau nhà. Cái áo cứng ngắc. Máu khô hết. Máu nhiều lắm. Tui hỏi máu gì, nó nói máu con mang nó bắn."

Bà quay sang nhìn tôi.

"Thằng Tuấn không bắn con gì hết. Từ nhỏ nó không bắn. Anh biết mà."

Tôi biết. Chín năm ở với nhau, tôi chưa từng thấy Tuấn cầm súng, kể cả cây súng săn cũ của trạm dùng để đuổi heo rừng phá rẫy. Nó nói tiếng súng làm nó đau đầu.

Bà Y Bia đứng dậy, đi vào gian trong, lục một lúc rồi đem ra cái gùi tre nhỏ cũ, đặt trước mặt tôi.

"Cái này của nó. Nó giấu dưới sàn. Tui không dám mở."