Chương 5: Muối và mía trong gùi
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Cái gùi nhẹ hơn tôi tưởng. Nắp đậy bằng một tấm lá cọ cột dây. Tôi mở ra ngay trên sàn nhà Y Bia, bà ngồi lùi ra xa, quay mặt đi.
Trong gùi có một bao ni lông muối hột, loại muối trắng đục to bằng hạt bắp, người làng mua ngoài chợ huyện về muối cá. Bao còn lưng lửng, chừng ba bốn ký. Dưới bao muối là mấy khúc mía tím đã khô quắt, vỏ nhăn như da rắn lột. Một nải chuối cau đen sì, teo lại. Một con dao nhỏ. Một cuộn dây dù màu cam. Và dưới đáy gùi, gấp làm tư, một tờ giấy xé từ cuốn sổ tuần tra của trạm.
Tôi nhận ra ngay nét chữ của Tuấn. Chữ in, nghiêng, nắn nót như học trò.
Đầu trang ghi ngày 14 tháng 3 năm 2011. Dòng thứ nhất ghi tuần tra hướng tây, dọc suối Đăk Wơ. Dòng thứ hai ghi nghe bốn phát súng ở đầu nguồn, khoảng chiều.
Dòng ấy bị gạch đi bằng một đường bút đè lên nhiều lần, mực xanh thấm loang cả mặt sau. Bên dưới, nửa trang còn lại là một tấm bản đồ vẽ tay.
Tôi nhìn ra được con suối, vẽ bằng một đường ngoằn ngoèo. Ở đầu nguồn có một dấu chéo nhỏ. Từ dấu chéo, một nét đứt đi về phía bắc, qua một vùng Tuấn vẽ toàn những cái que đứng sát nhau. Rừng le. Cuối nét đứt là một vòng tròn, bên trong ghi một chữ: "trằng".
Người làng gọi trằng là những bãi lầy trũng giữa rừng, đất có vị mặn, mùa khô vẫn còn nước. Thú rừng hay đến đó liếm đất. Tôi biết có một cái trằng ở phía bắc đầu nguồn, cách trạm gần một ngày đi bộ, nhưng tôi chưa tới bao giờ.
Cạnh vòng tròn, Tuấn vẽ thêm mấy vạch đếm. Rất nhiều vạch, chia thành từng bó năm. Tôi đếm được hơn bốn chục bó. Hơn hai trăm vạch.
Muối. Mía. Chuối. Một cái bản đồ đến một chỗ khuất giữa rừng. Hơn hai trăm lần đi.
Tôi nghĩ tới chuyện duy nhất mà một kiểm lâm như tôi có thể nghĩ tới: Tuấn đang nuôi giấu ai đó ở trằng. Một người trốn chạy. Có thể là người bên kia sang, có thể là một người mẹ dắt theo đứa con, bị bọn buôn lậu truy. Bốn phát súng năm ngoái. Cái áo dính máu. Nó cứu được ai đó, giấu đi, rồi một mình nuôi suốt một năm, không dám báo.
Nếu vậy thì người đàn bà kia, cái bóng cao hơn cây kia, là ai?
Tôi gấp tờ giấy, bỏ vào túi áo ngực, cài nút lại. Tôi hỏi Y Bia năm ngoái mùa khô trong làng có chuyện gì lạ không. Có ai lạ đến không. Bà suy nghĩ rất lâu rồi chỉ tay về cuối làng.
"Thằng Lịch. Năm ngoái nó mua cái xe mới. Xe Sirius đỏ. Mua liền sau mùa khô."
A Lịch ba mươi mấy tuổi, có tiếng ham rượu, ham đánh bài, hay đi làm thuê cho mấy người buôn gỗ dưới huyện. Năm 2010 trạm từng bắt nó chở gỗ cẩm lai lậu, phạt nhẹ cho về. Cả làng biết nó chẳng có ruộng rẫy gì ra tiền.
"Tiền đâu nó mua xe?"
"Nó nói làm cho ông Khiêm. Ông Khiêm ở Đăk Tô. Ông đi xe bán tải lên đây mua đồ rừng. Mật ong, sâm, lan rừng. Mua hết."
Tôi biết Khiêm. Ở hạt, tên ông ta xuất hiện trong mấy biên bản cũ, lần nào cũng không bắt được tang vật. Một ông ngoài năm mươi, bụng phệ, đeo dây chuyền vàng to bằng ngón tay út, nói giọng Quảng Nam lơ lớ. Có lần ông ghé trạm cho tôi gói thuốc ba số, hỏi han rất lịch sự về đường sá.
Tôi xuống cuối làng. Nhà A Lịch là nhà sàn gỗ mới dựng, mái tôn còn sáng. Chiếc Sirius đỏ không có dưới gầm sàn. Vợ nó, một người đàn bà trẻ địu con sau lưng, nói chồng đi Đăk Tô mấy hôm rồi chưa về. Chị nói mà mắt không nhìn tôi.
Dưới gầm sàn có mấy cuộn dây thừng nilon mới, loại to bằng cổ tay, còn nguyên nhãn. Hai cây xẻng cán dài dính đất đỏ đã khô, lưỡi bị mẻ như đào phải đá. Một chồng bao tải gạo, ba bốn bao. Mấy cái can nhựa đựng nước. Đủ cho mấy người ăn ở trong rừng cả tuần.
Tôi hỏi chị A Lịch đào gì mà mẻ cả lưỡi xẻng. Chị ôm con vào lòng, lùi lên cầu thang.
"Không biết. Ảnh nói đi làm hố."
"Hố gì?"
Chị lắc đầu, chui vào nhà, kéo tấm phên che cửa.
Tôi về trạm khi mặt trời đã xuống sau rặng núi bên Lào. Trời mùa khô đỏ quạch như than. Tôi ngồi trên hiên, trải tờ bản đồ của Tuấn lên đầu gối, nhìn cái dấu chéo ở đầu nguồn. Chỗ bà nằm lâu rồi, già A Pưl nói. Chỗ không ai được lên.
Chiếc điện thoại trên bàn rung lên. Ở trạm, đứng đúng góc hiên ấy mới bắt được một vạch sóng. Số lạ. Tôi nhấc máy.
Đầu dây bên kia im một lúc. Có tiếng gió, tiếng xe máy nổ cầm chừng. Rồi một giọng đàn ông, nói tiếng Kinh, giọng Quảng.
"Ông kiểm lâm. Mấy bữa nay ông đi nhiều quá."
Tôi hỏi ai đó. Giọng kia không trả lời.
"Ở yên trong trạm. Thằng nhỏ đó tự nó đi. Ông đừng lên đầu nguồn."
Máy cắt. Tôi gọi lại, chỉ nghe tiếng tút dài. Ngoài sân, con Mực đứng dậy, lông trên gáy dựng lên, mắt nhìn chằm chằm về phía cổng. Ngoài cổng không có ai. Chỉ có hàng vết tròn hôm trước, giờ đã bị gió phủ một lớp bụi mỏng, vẫn chỉ thẳng về phía tây.