Chương 6: Đêm nằm rừng khộp
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Sáng hôm sau tôi leo lên đồi gọi cho anh Toàn, kể cuộc điện thoại lạ, kể đống dây thừng với cái xẻng dưới nhà A Lịch. Anh Toàn nghe xong chửi thề một câu. Anh nói huyện đã duyệt cho tìm kiếm, nhưng phải hai ngày nữa mới gom đủ người, đủ xe. Anh dặn lần nữa: không được đi một mình.
Tuấn đã đi ba đêm. Rừng khộp tháng Hai, ban ngày nắng như rang, ban đêm lạnh buốt, suối thì gần cạn. Một người bị thương nằm ngoài đó thêm hai ngày nữa thì tôi biết sẽ ra sao.
Tôi lên làng tìm A Đinh. Nó nghe tôi nói muốn đi ngược Đăk Wơ lên phía đầu nguồn thì lắc đầu ngay. Tôi đưa nó xem tờ bản đồ của Tuấn. Nó nhìn cái vòng tròn ghi chữ trằng rất lâu, rồi nói nó chỉ đi tới chỗ hết rừng khộp, chỗ bắt đầu rừng le. Qua đó là đất của bà.
Trước khi đi, tôi bỏ bao muối hột trong gùi của Tuấn vào ba lô. Tôi nghĩ nếu ở cái trằng kia có người đang chờ Tuấn, họ sẽ cần nó.
Chúng tôi đi từ trưa, theo lòng suối cạn. Càng lên, lòng suối càng hẹp, đá càng to, hai bên bờ dựng đứng. Mùi tanh trong các vũng nước nặng dần. Đến chiều, A Đinh lấy khăn rằn bịt ngang mũi. Các vết tròn thỉnh thoảng hiện ra trên bãi cát, cũ có, mới có, cùng một hướng ngược lên thượng nguồn.
Mặt trời lặn thì chúng tôi tới chỗ rừng khộp thưa dần, nhường cho những bụi le xanh rì phía trước. Chúng tôi mắc võng giữa hai cây khộp trên một mô đất cao bên suối. Tôi lấy bật lửa ra định nhóm bếp nấu nồi cơm. A Đinh giữ tay tôi lại.
"Không đốt lửa. Đây là đường bà đi."
Hai đứa ăn cơm nắm nguội với muối mè. Trời tối hẳn. Trăng mười sáu lên chậm sau rặng núi, to và vàng như lòng đỏ trứng, rồi nhạt dần thành trắng. Rừng khộp dưới trăng không có bóng tối thật sự, chỉ có những thân cây đen cong queo đứng rời rạc, lá khô dưới đất ánh lên như vảy cá.
A Đinh nằm võng, tay nắm chặt khẩu súng kíp tự chế của nó. Tôi không cấm. Tôi nằm võng bên cạnh, đèn pin trên bụng, dao đặt dưới lưng.
Tôi không biết mình thiếp đi lúc nào. Tôi tỉnh dậy vì im lặng.
Côn trùng đã tắt. Như đêm ở trạm, tắt cùng một lượt. Gió cũng ngừng. Lá khộp trên cao không động. Mùi tanh dâng lên từ lòng suối, đặc quánh, ấm, quện cả mùi cỏ dập, mùi bùn non. Tiếng ù bắt đầu ở dưới đất. Tôi cảm thấy nó qua sợi dây võng, qua thân cây, chạy vào hai bả vai, vào ngực.
A Đinh nắm lấy mép võng tôi, giật một cái. Tôi quay sang. Nó không nói gì, chỉ hất cằm về phía bờ suối bên kia.
Bà đứng đó.
Giữa hai thân cây khộp, cách chúng tôi chừng ba chục bước. Cao. Đầu bà ngang tầm những cành cây thấp nhất. Dưới trăng, bà không có màu. Bà xám như tro, như một đống khói đứng thẳng, viền mờ ra lẫn vào bóng cây. Đằng trước mặt bà thả xuống một khối dài như tóc, chạm tới đất, đung đưa chậm từ bên này sang bên kia. Thân bà phủ một cái váy đen rộng, nặng, chân váy chạm đất.
Bà bước. Lá khô dưới chân bà không kêu. Một bước. Hai bước. Bà xuống lòng suối, qua vũng nước, nước không gợn.
A Đinh buông võng tôi ra. Nó lăn khỏi võng, bò giật lùi mấy bước, rồi đứng bật dậy chạy về phía rừng khộp, súng kíp bỏ lại. Tiếng chân nó đạp lá khô răng rắc xa dần, rồi mất.
Tôi không chạy. Tôi không biết vì sao. Có lẽ vì chân tôi không còn là chân tôi nữa.
Bà lên bờ bên này. Bà đứng ngay trước võng tôi. Tôi ngửa mặt lên mà không thấy được đầu bà, chỉ thấy một khối xám chắn hết vầng trăng. Hơi thở phả xuống mặt tôi. Ấm. Ẩm. Mùi cỏ tươi, mùi đất, và mùi máu.
Một thứ gì đó hạ xuống. Mềm mà nặng, nhám như bao bố ướt. Nó chạm vào vành nón tôi, trượt qua trán, qua má, dừng lại ở cổ áo, ở túi áo ngực nơi tôi cất tờ bản đồ. Nó hít vào. Tôi nghe rõ tiếng hít, dài và sâu như ống bễ lò rèn. Tôi nghĩ đó là tóc bà. Tóc bà đang ngửi tôi.
Rồi nó nhấc cái nón khỏi đầu tôi. Nhẹ nhàng như người ta nhấc cái nón của một đứa trẻ đang ngủ.
Tiếng ù ngừng. Bà quay đi. Lúc bà quay lưng, ánh trăng rọi lên phía sau, và tôi thấy ở chỗ cuối thân bà, nơi lẽ ra phải có gì đó, chỉ có một vệt cụt sẫm màu, như một vết cháy. Bà đi ngược lên phía rừng le. Lá khô vẫn không kêu.
Côn trùng kêu lại lúc trời rạng. Tôi tụt khỏi võng, hai chân tê dại. Súng kíp của A Đinh nằm lăn trên lá.
Cái nón của tôi nằm cách đó chừng ba chục bước, về phía bắc, dưới chân một bụi le. Nón không rơi. Nón được đặt ngửa, ngay ngắn, nằm gọn giữa lòng một vết chân tròn. Trong lòng nón có một nhúm muối hột trắng đục, khô ráo. Tôi quay lại nhìn cái ba lô treo đầu võng. Miệng ba lô đã bị mở, bao muối bên trong bị xé một lỗ nhỏ.