Chương 8: Bà ngoại ở La Gi
Khoảng 5 phút đọc·5lượt xem
Tôi tới La Gi lúc xế. Hỏi thăm ở chợ cá, người ta chỉ ra một xóm chài sát bãi, nhà nào cũng phơi khô trước sân, mùi cá muối nồng tới nỗi tôi phải thở bằng miệng. Nhà bà ngoại con Ốc là căn chót, vách ván, mái tôn, sân trước giăng mấy tấm lưới vá dở.
Bà ngồi trên cái chõng tre ngoài hiên, đang vá lưới. Bà chừng sáu chục, nhỏ người, lưng còng, hai tay đen bóng vì nắng. Người trong xóm kêu bà là bà Hai Thìn.
Tôi đứng ngoài sân lâu mới dám mở miệng. Tôi nói tôi lái xe khách, tôi lượm được đồ của con Ốc. Tôi mở ba lô, gỡ băng keo trên cái hũ chao, đổ chiếc vòng đứt ra lòng bàn tay.
Bà Hai bỏ cây kim đan lưới xuống. Bà cầm chiếc vòng lên, xoay xoay, nhìn vô mặt trong. Ngón tay bà miết theo nét chữ đã mòn.
"Chữ Ốc. Tiệm bạc ngoài chợ khắc. Con Lài nó dành tiền làm mướn hai tháng mới mua được."
* * *
Bà mời tôi ngồi xuống cái chõng. Bà rót cho tôi ly nước trà nguội. Bà nói giọng người biển, chậm, cuối câu kéo xuống.
"Con Ốc nó lạ lắm, chú. Hổng chịu ngồi yên. Hở ra là đi lạc, chui gầm ghe, chui sau đống lưới. Con Lài đeo cho nó cái vòng có lục lạc. Leng keng chỗ nào là biết con ở chỗ đó. Nó nói với tui, má, con hổng cần thấy con Ốc, con nghe là đủ."
Tôi hỏi bữa đi xe, phải con Lài cho con nằm băng ghế cuối không.
"Ờ. Xe chật, nó ôm giỏ đồ ngồi giữa. Nó cho con Ốc ra sau nằm ngủ. Trước khi đi nó còn gọi điện về khoe, nó nói con Ốc nằm ghế sau, leng keng leng keng, con nghe hoài nên con hổng lo."
Bà ngừng tay. Bà nhìn ra biển một lúc.
"Tới chừng xe lật, đèn tắt, nước tràn. Hổng còn nghe gì nữa."
* * *
Tôi hỏi bà câu tôi đã định hỏi suốt dọc đường. Tôi hỏi, có phải con Ốc nó theo cái vòng về nhà tôi không. Có phải nó nhập vô con gái tôi không.
Bà Hai nhìn tôi như nhìn một đứa nói chuyện tào lao.
"Con Ốc hả? Con Ốc nó đâu có đi đâu. Nó nằm ngoài kia, sau đồi dương."
Bà kể. Bữa đưa xác con Ốc về, bà làm lễ gọi hồn ngay tại chân cầu Ba Gò, ông thầy trong xóm gọi ba lần, bà đứng dưới nước tới ngực mà dạ thay. Chôn con nhỏ xong, bảy đêm liền bà nằm mộng thấy nó về, ngồi trong lòng bà, đòi ăn cơm chan nước mắm. Tới đêm thứ bảy thì nó thôi. Bà nói hồn nó về đủ rồi, nó yên rồi.
"Con nít mà, chú. Có bà nó gọi là nó về."
Tôi hỏi, giọng tôi khàn đi. Vậy còn con Lài.
Bà Hai không trả lời liền. Bà cầm cây kim lên, đan thêm mấy mắt lưới, rồi để xuống lại.
"Con Lài hổng chịu về. Ai gọi cũng hổng về. Nó hổng tin con nó chết. Nó cứ nghĩ con nó còn kẹt đâu đó trên con xe."
"Năm rồi, đêm nào tui cũng nghe nó lội từ biển vô. Nó đi ngang hiên nhà này, ướt nhẹp, nước nhỏ lách tách. Nó hổng ghé. Nó đi lên đường cái, đi về phía cầu. Nó kiếm con theo tiếng lục lạc."
Bà ngẩng lên nhìn tôi.
"Từ hồi tháng Tám tới giờ tui hổng còn nghe nó đi ngang."
Tháng Tám. Cái đêm mưa tôi cạy chiếc vòng ra khỏi khe ray.
* * *
Tôi ngồi im. Tôi nghe đầu mình kêu ong ong như tiếng máy xe chạy không tải.
Tôi nghĩ lại từng thứ. Mùi biển. Vệt muối trên ngạch cửa. Dấu chân bự hơn chân Hằng.
Sợi tóc dài trên cây lược. Bàn tay đàn bà luồn dưới cửa sắt. Con nhỏ kêu mẹ ngoài cửa. Hai bím tóc thắt bằng rong.
Câu hát ru má đi bán cá. Ông thầy bên Bình Đông nói trong người con Su hổng có ai lạ hết, hồn nó là hồn nó. Con Su nói, mẹ nói con quên, mẹ nhắc lại cho con.
Không có con Ốc nào ở nhà tôi cả. Chưa từng có.
Bà Hai nhìn mặt tôi, chắc thấy hết. Bà hỏi nhỏ, con nhỏ nhà chú mấy tuổi.
Tôi nói bốn tuổi.
"Con Ốc mất hồi ba tuổi. Giờ còn sống là bốn."
Bà hỏi con nhỏ kêu ai là mẹ. Tôi nói nó kêu người ngoài cửa. Nó kêu vợ tôi là cô. Mấy bữa nay mới kêu lại mẹ.
Bà Hai gật đầu chậm, như nghe một chuyện bà đoán trước.
"Con Lài nó kiếm được con rồi, chú. Nó nghe tiếng lục lạc, nó lần theo, nó tới nhà chú. Nó gặp một đứa con gái nhỏ, nằm ngủ, cổ tay đeo cái vòng của con Ốc. Nó nhận. Nó mất con một lần rồi. Nó hổng chịu mất lần nữa."
Tôi lấy cái bóp, rút tấm hình con Su chụp hồi Tết, đưa bà. Tôi không biết sao mình làm vậy. Có lẽ tôi muốn bà nói con tôi giống con Ốc. Nếu giống thì còn có lý do.
Bà Hai cầm tấm hình, đưa ra xa, nheo mắt nhìn. Rồi bà trả lại cho tôi.
"Hổng giống chút nào. Con Ốc đen nhẻm, mặt tròn vo. Con Lài nó biết mà, chú. Nó biết mà nó vẫn nhận."
* * *
Trước khi tôi về, bà Hai dắt tôi vô nhà thắp nhang. Trên bàn thờ có hai tấm hình. Tấm nhỏ là con Ốc, đen nhẻm, cười toe, cổ tay giơ lên khoe chiếc vòng bạc còn đủ ba hạt lục lạc. Tấm lớn là một cô gái trẻ, tóc dài, thắt hai bím nhỏ sau ót, đuôi bím cột bằng sợi gì đó xanh rêu.
Tôi cắm nhang. Khói bay thẳng lên một chút rồi tạt ngang về phía tấm hình lớn.
Mặt kính khung hình con Lài mờ đi một lớp hơi nước, từ phía bên trong.