Chương 10: Hai gốc cao su
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Tôi không kể lại lời ông Tư cho ai. Đêm đó tôi nằm nghe tiếng võng tới sáng. Nó đưa chậm hơn mọi đêm, chậm tới mức có lúc tôi tưởng nó ngưng, rồi lại kẽo kẹt một cái, như người nằm trên đó đã mệt lắm mà chưa chịu ngủ.
Sáng ra trời đục, nắng không lên được. Anh Sáu dẫn sáu người ra đầu xóm, hai cây cưa lá dài, ba cây rìu, mấy cây xà beng. Tổ con gái tụi tôi được giao dọn cành, chất đống. Chị Hiền ra trước, lặng lẽ dọn tấm ván cúng, gom chén cơm, ly nước, vỏ đạn cắm bông mua, đem đặt vô gốc một cây cao su khác cách đó mấy hàng. Chị khấn thầm gì đó, tôi không nghe rõ.
Ông Tư ra đứng ở mép đường, khoanh tay, không nói gì. Con Vàng ngồi cạnh chân ông.
Cưa cây bên trái trước. Hai anh dân quân kéo cưa, mỗi người một đầu. Lưỡi cưa ăn vô vỏ cây được chừng một gang thì mủ bắt đầu ứa ra.
Không phải ứa. Trào. Mủ trắng sùi bọt trào ra theo lưỡi cưa, chảy ướt hai tay người kéo, chảy xuống ống quần, chảy thành dòng xuống gốc. Mùi chua nồng xộc lên. Một anh buông cưa, chùi tay vô quần, mặt tái.
"Anh Sáu ơi, cây khô mà sao mủ nhiều dữ vậy?"
Anh Sáu không trả lời. Anh cầm lấy đầu cưa, kéo thế. Mủ trào ướt cả ngực áo anh. Anh nghiến răng kéo. Mất gần một buổi sáng, cây đầu tiên mới đổ. Nó đổ ngang qua đường mòn, rầm một tiếng làm đất dưới chân rung lên, lá khô bay mù mịt. Từ gốc cưa, mủ còn rỉ ra chậm chậm trên mặt gỗ trắng, như mồ hôi trên trán người.
Ông Tư bước tới. Ông cúi xuống, đưa tay sờ cái vòng mòn trên khúc thân vừa đổ. Rồi ông chỉ xuống đất, ngay sát gốc, phía trong, chỗ giữa hai cây.
"Đào chỗ này."
Anh Sáu nhìn ông. Nhìn tôi. Rồi anh gật đầu với Tấn.
Tấn cầm xà beng xăm xuống. Đất đỏ chỗ đó mềm hơn đất xung quanh, xốp, lớp trên lẫn lá khô mục. Đào xuống chừng hai gang tay thì lưỡi xà beng chạm vô một thứ kêu cạch.
Tấn quỳ xuống, bới bằng tay. Nó lôi lên một con dao. Lưỡi dao cong, mảnh, đầu lưỡi uốn móc vô như mỏ chim, rỉ sét đỏ quạch. Cán gỗ nhỏ, quấn chặt một lớp xơ thốt nốt bện, chỗ tay cầm mòn bóng.
Ông Tư cầm con dao lên. Tay ông run.
"Dao cạo mủ. Kiểu bên kia. Lưỡi móc vô. Bên mình lưỡi thẳng."
Tấn bới tiếp. Dưới con dao là một nùi dây thốt nốt, rối, đen sẫm vì ngấm đất. Tấn kéo ra một khúc. Dây bện chắc, mấy chỗ còn thắt nút thành vòng tròn nhỏ, cỡ một cổ tay. Hai vòng. Nút thắt siết chết, không có đầu để tháo.
Tôi đứng sau lưng Tấn. Tôi nhìn hai cái vòng dây, và tôi thấy lại hai cổ tay gầy trên võng, hai vết hằn đỏ sẫm.
Tấn còn định bới nữa. Lớp đất bên dưới cứng hơn, nện chặt. Anh Sáu đặt tay lên vai nó.
"Thôi. Ngưng."
Tấn ngẩng lên. Anh Sáu nói chậm, rõ từng chữ, như nói cho cả xóm nghe.
"Dưới đó là người. Người thì phải có người lo cho đàng hoàng. Không phải tụi mình bới bằng xà beng."
Anh kêu lấp đất lại, cắm một cây cọc đánh dấu. Con dao với nùi dây, anh gói vô tấm ni lông, đưa cho ông Tư cầm. Ông Tư ôm gói ni lông vô ngực như ôm đứa nhỏ.
Rồi anh quay qua cây bên phải. Anh đứng nhìn nó lâu. Hai anh cưa cũng đứng nhìn anh, chờ lệnh.
"Cây này để chiều."
Chiều không ai cưa. Cũng không ai nhắc.
Đêm đó tôi nằm sát cửa sổ. Cả tổ không ai ngủ, tôi biết vì không nghe ai ngáy. Ngoài đầu xóm, cây bên trái nằm ngang trên mặt đất, cây bên phải đứng một mình.
Dế tắt. Lạnh lên.
Kẽo kẹt.
Tiếng võng lệch đi. Chỉ một đầu kêu, đầu kia không còn gì để cột. Nghe như một cái võng bị đứt một bên, thõng xuống, đầu còn lại bị kéo lê, cọ vô vỏ cây, rít lên từng hồi, không ra nhịp. Rồi lẫn trong tiếng rít đó, tôi nghe một tiếng khác.
Tiếng khóc. Rất nhỏ, rất khẽ, tiếng khóc của một đứa con trai mới lớn cố nuốt vô, không cho ai nghe.
Tôi ngồi dậy. Chị Nguyệt nằm bên cạnh nắm tay tôi kéo xuống. Chị lắc đầu.
Sáng hôm sau, lúc tụi tôi còn chưa nhóm bếp, một tốp bộ đội đi ngang qua xóm, dẫn theo một người bị trói tay. Một thằng nhỏ mặc đồ đen, ốm nhom, chân không. Bộ đội nói bắt được nó lạc trong rừng cao su lô bên, đói lả, không chống cự.
Nó đi ngang qua đầu xóm. Tới cái cây nằm đổ thì nó khựng lại, như bị ai giật dây.