Chương 9: Câu hát ru lạ
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Chiều đó tôi ngồi phụ ông Tư gỡ bẫy chim. Hai ông cháu ngồi trên bậc cửa căn cuối dãy, ông lựa mấy sợi dây cước rối, tôi gỡ lông chim dính trên keo. Tôi không định hát. Câu hát cứ tự nó ra, khe khẽ, trong cổ họng, như người ta ậm ừ lúc tay đang bận.
Ông Tư đánh rơi nắm dây cước.
Ông quay qua nhìn tôi. Mặt ông xám đi, như có ai rút hết máu. Ông hỏi tôi học câu đó ở đâu. Giọng ông run.
Tôi nói thật. Tôi kể đêm thứ tư, cái võng lưới, thằng nhỏ đầu trọc, gót chân dính mủ, ngón tay đặt lên môi, câu hát, hai cổ tay hằn dây. Tôi kể hết, không bỏ chỗ nào. Kể xong tôi thấy nhẹ người, mà cũng thấy sợ, vì giờ đã có người thứ hai biết.
Ông Tư ngồi im lâu lắm. Con Vàng nằm dưới chân, ngẩng lên nhìn ông, rồi nhìn tôi.
"Câu đó là hát ru bên kia. Mấy xóm cạo mủ bên Mi-mốt, bên Chúp, má nào cũng hát. Hồi tao còn nhỏ theo tía qua đó cạo, tối nằm nghe hoài."
Tôi hỏi lời nó nói gì. Ông nhắm mắt nhớ, rồi dịch ra chậm rãi, từng câu:
"Ngủ đi con, ngủ cho ngoan. Má đi cạo mủ khi gà chưa gáy. Mủ trắng chảy về đầy chén, má đem đổi gạo về nấu cháo con ăn."
Ông nói xong thì im. Tôi cũng im. Tôi nghĩ tới những đường cạo mới trên dọc đường mòn. Cạo khi gà chưa gáy. Chảy về đầy chén.
Rồi ông kể chuyện mà ông không chịu kể với ông Ba trên huyện. Ở bên kia, con nít nhà cạo mủ mười hai, mười ba tuổi là theo cha mẹ ra lô. Ban đầu cầm đèn, xách chén. Rồi tập cạo. Đứa nào tay khéo thì mười bốn tuổi đã cạo ngang người lớn. Và ở mấy sở bên đó, người ta cạo từ phải xuống trái. Thợ bên này nhìn đường cạo là biết ai học nghề ở đâu.
"Hôm mày kêu tao ra coi, tao biết liền. Mà tao hổng dám nói."
Tôi hỏi ông còn biết gì nữa không. Ông mở mắt nhìn ra đầu xóm. Hai gốc cao su đứng đó, nắng chiều đỏ quạch đổ qua, bóng hai thân cây dài ngoằng chạm tới bậc cửa chỗ tụi tôi ngồi.
"Sáng hôm Lô Bảy còn trong tay tụi nó, tao có nghe một loạt súng. Ở đầu xóm. Tao trốn trên gác, tao có nghe trước đó..."
Ông ngưng lại. Bàn tay đen bóng của ông bấu vô đầu gối.
"Chuyện tao nghe, tao hổng dám nói. Nói ra người ta hỏi sao mày nghe được, sao mày ở đó, sao tụi nó hổng giết mày. Tao lên huyện ba ngày là đủ rồi."
Tôi không ép ông. Lúc đó tôi chưa đủ lớn để biết ép người già nói những chuyện họ đã chôn. Mà tôi cũng sợ cái điều ông sắp nói.
Tối đó con Lụa lên cơn sốt. Sốt cao, mặt đỏ gay, người run bần bật dù đắp hai lớp mền. Chị Nguyệt cho nó uống thuốc cảm, lau mình bằng nước ấm, không đỡ. Gần khuya nó bắt đầu nói sảng. Nó nắm tay tôi, mắt mở trừng trừng mà không nhìn ai.
"Lạnh. Anh lạnh. Dây siết quá."
Rồi nó ậm ừ hát. Câu hát ru tôi vừa hát chiều nay, sai lời, lệch nhịp, mà đúng là câu đó. Con Lụa chưa từng nghe tôi hát. Nó nằm trong nhà từ trưa vì nhức đầu.
Chị Nguyệt nhìn tôi qua ngọn đèn dầu. Ánh mắt chị hỏi mà miệng không hỏi.
Sáng hôm sau, anh Sáu cho người chở con Lụa ra trạm xá xã bằng xe đạp thồ. Nó nằm trên yên sau, đầu gục vô lưng anh dân quân đạp xe, tay còn bấu áo tôi tới lúc xe lăn bánh mới buông. Tổ tôi còn năm đứa.
Trưa đó có điện từ huyện xuống. Một tuần nữa trung đội dời lên tuyến trên. Trước khi đi phải phát quang đầu xóm, chặt bớt cây để lấy gỗ dựng lán cho đơn vị bộ đội sắp vô đóng, mở đường cho xe vô thẳng.
Anh Sáu đứng giữa xóm, nhìn quanh rồi chỉ.
"Hai cây già đầu xóm. Gỗ tốt, thân to, chặt hai cây đó trước. Sáng mai làm."
Không ai nói gì. Chị Hiền nhìn xuống đất. Tấn liếc qua tôi. Từ xa, ông Tư đứng dựa cửa căn cuối dãy, nghe hết.
Chiều tối, lúc tôi đi múc nước, ông Tư chặn tôi ở chỗ cái lu nước mưa. Ông nắm cổ tay tôi, bàn tay ông lạnh ngắt.
"Mai tụi nó chặt thì mày canh chừng giùm tao. Chặt thì đào gốc lên luôn đi. Đào cho sâu. Đừng để nó nằm đó nữa."
Tôi hỏi nó là ai. Lần này ông không né.
"Đứa mày thấy trên võng. Nó nằm dưới đó."