☾ Truyện Ma Có Thật
← Võng đưa giữa lô cao su

Chương 4: Bát cơm dưới gốc

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Chị người Hòa Thành tên Hiền. Chị là người đứng ra lập cái trang. Chị lượm ba viên gạch thẻ ở dãy nhà sập, kê một tấm ván cửa lên làm mặt bàn, đặt ngay giữa hai gốc cao su đầu xóm. Trên đó chị để một chén cơm trắng, một ly nước lã, ba điếu thuốc vấn và một nhúm thuốc rê gói trong miếng giấy báo. Lụa đi hái được mấy bông mua tím ngoài bìa lô, cắm vô cái vỏ đạn cối.

"Anh bộ đội ơi, tụi em ở đây không biết anh tên chi, quê đâu. Anh thương thì anh phù hộ tụi em đi về đủ người."

Chị Hiền khấn bằng cái giọng Hòa Thành nhừa nhựa, khấn xong vái ba vái. Cả tổ đứng sau vái theo. Tôi cũng vái. Tay tôi chắp lại mà đầu thì nghĩ tới đường cạo xiên từ phải xuống trái, tới câu nói bỏ lửng của ông Tư.

Anh Sáu đi ngang qua, thấy cái trang, đứng lại cau mày.

"Dân quân mà bày đặt cúng kiến. Cấp trên xuống thấy là tao bị phê bình."

Nói vậy mà lúc tụi tôi đi hết, tôi quay lại lấy cái nón bỏ quên, thấy anh đứng một mình trước tấm ván. Anh rút trong túi áo ra một điếu thuốc Vàm Cỏ, loại có đầu lọc mà anh dành dụm, đặt cạnh ba điếu thuốc vấn. Anh không vái. Anh chỉ đứng đó một lúc lâu rồi mới đi.

Sáng hôm sau, cả tổ ra coi.

Chén cơm còn nguyên, nguội ngắt, có mấy con kiến bò quanh miệng chén. Ba điếu thuốc vấn với điếu Vàm Cỏ cũng còn nguyên. Ly nước thì không ai đụng mà mặt nước đã đóng một lớp màng mỏng, trắng đục, dẻo. Chị Hiền lấy móng tay khều lên. Lớp màng dính vô ngón tay, kéo ra thành sợi.

Mủ cao su. Đông lại trên mặt ly nước như váng sữa.

Còn gói thuốc rê thì đã bị mở. Tờ giấy báo được trải phẳng ra, nhúm thuốc vơi đi chừng một điếu. Phần còn lại gom gọn vô giữa giấy, tờ giấy lại được gấp vuông vức, bốn góc khít y như cái khăn trên đường mòn.

Không ai nói gì. Chị Hiền gói tờ giấy lại, cầm trên tay, môi mấp máy mà không ra tiếng.

Trưa đó có người trên huyện xuống. Ông là chính trị viên huyện đội, tên Ba Khiêm, đeo kính, mặc áo bốn túi đã sờn cổ. Anh Sáu báo cáo chuyện hai cái mìn có khăn đánh dấu. Ông Ba nghe xong không nói tới chuyện ma. Ông nói một câu làm cả xóm im re.

"Người đặt khăn biết chỗ mìn trước công binh mình. Vậy là người đó thấy tụi nó gài. Thấy mà không báo, chỉ đặt khăn. Trong xóm này có người qua lại với phía bên kia."

Trong xóm chỉ có một người không phải dân quân. Ông Tư Lạc.

Ông Ba cho gọi ông Tư lên hỏi. Hỏi trong căn nhà phu không còn mái, ngồi trên hai cái thùng đạn. Tụi tôi đứng ngoài nghe lỏm. Ông Tư khai ông cạo mủ cho sở này từ năm mười tám tuổi, trước đó theo cha cạo ở mấy đồn điền bên kia biên giới, nói được tiếng bên đó. Năm bảy lăm sở giải tán, vợ ông chết vì sốt rét, ông không có con, không biết đi đâu nên ở lại.

Ông Ba hỏi đêm mấy hôm nay ông làm gì. Ông Tư nói ông ngủ. Hỏi ông có nghe tiếng võng không. Ông Tư im một hồi lâu, rồi nói:

"Có nghe. Mà tui không dám ra."

Ông Ba hỏi vì sao không dám. Ông Tư không trả lời nữa. Ông ngồi nhìn hai bàn tay đen bóng của mình, mân mê cái móng tay nứt.

Chiều đó ông Ba cho hai anh dân quân dẫn ông Tư lên huyện để hỏi thêm. Ông Tư đi không cãi một lời. Ông chỉ xin ghé qua căn cuối dãy lấy cái áo. Lúc đi ngang chỗ tôi đứng, ông dừng lại, móc trong túi ra một nắm cơm cháy gói lá chuối dúi vào tay tôi.

"Cho con Vàng ăn giùm tao. Nó hổng ăn đồ sống."

Ông đi rồi tôi mới thấy mình chưa kịp nói cám ơn. Tôi đứng cầm nắm cơm cháy, thấy cổ họng nghèn nghẹn. Tôi không tin ông Tư đi đặt khăn. Một người biết chỗ mìn mà muốn hại mình thì đâu cần đặt khăn. Một người muốn cứu mình thì đâu cần lén lút.

Đêm đó con Vàng không chịu nằm trong căn cuối dãy. Nó chạy lên chạy xuống trước dãy nhà phu, rên ư ử. Tôi bẻ cơm cháy cho nó, nó ngửi rồi bỏ đó.

Khuya, tiếng võng lại kêu. Tôi ngồi dậy, nhìn qua chấn song.

Con Vàng đang nằm dưới đất, ngay giữa hai gốc cao su, chỗ cái trang. Nó nằm nghiêng, bốn chân duỗi, cái đuôi cụt ngoe nguẩy. Đầu nó ngóc lên, hướng vào khoảng trống phía trên, cái mõm hếch hếch như được ai gãi cằm.

Phía trên đầu nó là chỗ cái võng mà không có võng. Tiếng kẽo kẹt đều đều. Và cái đuôi cụt của con chó cứ ngoe nguẩy theo đúng từng nhịp đưa.