☾ Truyện Ma Có Thật
← Võng đưa giữa lô cao su

Chương 5: Sợi dây thốt nốt

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Ông Tư đi được ba ngày. Ba ngày đó con Vàng ăn ít dần, ban ngày nằm dưới mái hiên căn cuối dãy, ban đêm ra nằm giữa hai gốc cao su. Tôi để ý thấy nó không ra đó lúc chạng vạng hay lúc trăng lên. Nó ra lúc dế ngưng kêu, lúc lá khô ngừng rụng. Tức là lúc tiếng võng bắt đầu.

Tôi bắt đầu để ý mọi thứ ở hai gốc cây ấy. Trưa nào gánh hàng về, ăn vội chén cơm, tôi cũng kiếm cớ ra đầu xóm.

Trưa thứ ba, tôi tìm thấy một thứ kẹt trong kẽ vỏ cây, ngay chỗ vòng mòn bóng. Mấy sợi xơ màu nâu sậm, to cỡ sợi chỉ gai, bện xoắn với nhau, cứng và ráp. Tôi lấy móng tay gỡ ra được một đoạn dài cỡ ngón tay, đem về đưa cho Tấn coi. Nhà ngoại Tấn ở Bến Cầu, sát biên giới, hồi nhỏ nó hay theo ngoại qua chợ bên kia đổi đường.

Tấn cầm lên, vê vê giữa hai ngón tay, rồi đưa lên mũi ngửi.

"Xơ thốt nốt nè chị Út. Bện từ cuống lá thốt nốt. Bên kia người ta bện dây võng, dây cột trâu bằng thứ này hết. Bền dữ lắm, mưa nắng không mục."

Tôi hỏi bên mình có ai xài không. Tấn nghĩ một chút rồi lắc đầu. Dân quân, bộ đội mình mắc võng bằng dây dù, dây ni lông. Dây thốt nốt nặng, cồng kềnh, không ai mang theo đi đánh giặc.

Tôi cầm đoạn xơ về, gói vô miếng giấy, nhét đáy ba lô. Tôi không đưa cho anh Sáu coi. Tôi không biết vì sao mình làm vậy. Chỉ biết là nếu đưa ra, mọi chuyện sẽ đi theo một hướng mà tôi chưa muốn nó đi.

Nhưng anh Sáu không cần tôi. Anh có lý lẽ riêng của anh.

Tối đó anh tập hợp cả trung đội trước dãy nhà phu. Anh nói ông Ba trên huyện nghi có người qua lại với phía bên kia, mà ông Tư đã bị đưa đi rồi, tiếng võng vẫn kêu, khăn vẫn chưa biết từ đâu. Vậy thì có hai đường. Một là ma. Hai là có đứa nào bên kia đang trốn ở gần đây, lén ra nằm võng ban đêm, thấy đồng bọn gài mìn thì đánh dấu, vì nó muốn ra hàng mà chưa dám.

"Tao hổng tin ma. Tối mai tao phục ở đầu xóm. Bắt sống nó."

Không ai cãi. Tôi thấy chị Hiền lén làm dấu trước ngực theo kiểu đạo của chị. Con Lụa nhìn tôi, mắt mở lớn, môi tái.

Trưa hôm sau ông Tư về. Hai anh dân quân dẫn ông về tới đầu lộ thì quay đi. Ông đi bộ vô xóm một mình, chậm, người ốm đi thấy rõ, gò má nhô lên. Trên huyện hỏi ba ngày không ra gì, cho về, dặn không được đi khỏi xóm. Con Vàng thấy chủ thì chạy ra, nhảy chồm lên ngực ông, rên ư ử như con nít khóc.

Tôi đem cho ông một chén cháo. Ông ngồi trên bậc cửa ăn từng muỗng, lâu lắm. Ăn xong ông hỏi tôi mấy đêm nay có chuyện gì. Tôi kể hết, cả chuyện con Vàng nằm ngoắc đuôi dưới khoảng trống. Kể tới đó thì ông đặt cái chén xuống, nhìn ra đầu xóm.

"Nó thương chó. Mấy đứa nhỏ cạo mủ bên đó đứa nào cũng nuôi chó."

Tôi hỏi nó là ai. Ông không trả lời. Ông hỏi lại tôi về cái thẹo trên trán.

Tôi kể cái đêm đầu chiến dịch, cái mương, cái mùi. Kể tới bàn tay thì tôi ngập ngừng. Tôi chưa từng nói chuyện bàn tay với ai. Mà không biết sao lúc đó tôi nói ra. Ông Tư nghe xong ngồi im. Con Vàng nằm dưới chân ông, gác mõm lên bàn chân nứt nẻ của ông.

"Cái mương đó ở lô nào?"

Tôi nói không biết, lúc đó tối quá, chỉ biết đi theo hàng từ hướng lộ vô. Ông gật gật đầu, như đã đoán được.

"Lô Bảy với lô Tám giáp nhau có cái mương xói lớn nhất sở. Mùa mưa nước chảy như sông. Từ đó tới đây đi bộ chưa tới mười phút."

Rồi ông đứng dậy đi vô nhà. Tới cửa ông quay lại, nói với tôi một câu, giọng rất nhỏ:

"Tối mai thằng Sáu phục thì mày nói nó đừng bắn. Bắn là trúng cây, cây chảy mủ chết. Mà nó buồn."

Tôi đứng đó, cầm cái chén không. Nó buồn. Ông Tư nói như nói về một người quen, một người ông biết mặt.

Tối đó tôi mở hộp đạn rỗng của chị Nguyệt, nhấc cục gạch lên coi cái khăn. Khăn vẫn còn trong đó. Lúc chị Nguyệt bỏ vô thì khăn bị nhét vo tròn cho vừa hộp. Giờ nó nằm gọn trong một góc, gấp vuông vức, bốn góc khít.