Chương 6: Đêm phục đầu xóm
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Tôi xin anh Sáu cho theo đi phục. Tôi nói tổ cứu thương phải có người, lỡ bắn nhau thì có đứa băng bó. Anh nhìn cái thẹo trên trán tôi một hồi rồi gật.
Tôi nói lại lời ông Tư, đừng bắn. Anh Sáu cười khẩy.
"Ông già đó biết cái gì mà ổng dặn. Nó mà rút súng thì mày coi tao có bắn không."
Chạng vạng, bốn người đàn ông với tôi bò vô sau bức tường đổ của căn nhà phu đầu dãy, cách hai gốc cao su chừng hai chục bước. Anh Sáu, Tấn, với hai anh dân quân người Bến Kéo. Tôi nằm sau cùng, ôm cái túi cứu thương có cuộn băng, chai cồn, ống thuốc cầm máu. Tường gạch còn ấm hơi nắng ban ngày. Lá khô dưới bụng kêu sột soạt mỗi lần ai thở mạnh.
Trời tối hẳn. Không trăng. Hai gốc cao su chỉ còn là hai cột đen đậm hơn nền trời một chút. Muỗi rừng bu đầy mặt, không ai dám đập. Tấn nằm sát tôi, tôi nghe tiếng nó nuốt nước miếng.
Lâu lắm. Tôi không biết bao lâu. Đủ để lưng tôi tê cứng, đủ để sương thấm qua lớp áo bà ba đen lạnh ngắt trên vai.
Rồi tôi thấy lạnh hơn. Không phải lạnh sương. Một luồng lạnh từ dưới đất bốc lên, xuyên qua lớp lá khô, áp vào bụng, vào ngực. Dế trong đám gạch vụn quanh tôi tắt cùng lúc, như có ai úp cái nồi xuống. Muỗi bay đi hết. Con Vàng ở căn cuối dãy rên lên một tiếng dài rồi im.
Kẽo kẹt.
Gần lắm. Gần hơn mọi đêm tôi nghe từ căn của tổ. Tiếng dây xơ cọ vào vỏ cây nghe rõ cả từng sợi, khô và rít. Kẽo kẹt. Có tiếng gì đó tí tách, như nước nhỏ giọt xuống lá.
Anh Sáu chống khuỷu tay nhỏm lên. Anh bật cây đèn pin bọc vải đen, chỉ chừa một khe sáng nhỏ, rọi về phía hai gốc cây.
Khe sáng vàng vọt quét qua gốc bên trái. Tôi thấy rõ cái vòng vỏ mòn bóng. Cái vòng đó đang lún xuống. Lún vô rồi nhả ra, lún vô rồi nhả ra, theo đúng nhịp kẽo kẹt. Như có một sợi dây vô hình đang siết rồi thả. Ngay dưới vòng, đường cạo mới đang ứa mủ, từng giọt trắng lăn xuống, rớt lên lá khô. Tí tách.
Khe sáng dịch qua khoảng giữa hai gốc. Trống không. Chỉ có sương lờ đờ. Mà đám sương ấy võng xuống thành một đường cong, đầu cao đầu thấp, đúng hình một cái võng có người nằm, và nó đưa qua đưa lại.
Hai anh Bến Kéo bò lui. Tôi nghe tiếng dép một anh quẹt vô gạch. Tấn nắm chặt cổ tay tôi, móng tay nó cắm vô da.
Anh Sáu tắt đèn. Anh từ từ đưa khẩu súng lên tì vô mép tường. Tôi nghe tiếng chốt an toàn bật ra. Trong bóng tối, tôi thấy bàn tay cụt ngón của anh run bần bật trên báng súng.
Tôi chồm tới chụp cánh tay anh. Tôi không nghĩ gì cả. Tay tôi làm trước đầu tôi. Anh Sáu quay lại, mặt anh trắng bệch trong bóng tối, mắt mở thao láo. Anh không gạt tay tôi ra.
Một mùi khói bay tới. Thuốc rê. Hăng, ngai ngái, cuộn trong sương. Thứ mùi của người đàn ông vừa rít một hơi, thả khói ra thật chậm. Mùi đó lượn qua mặt tôi rồi đi.
Rồi tiếng võng ngưng. Không phải thưa dần như mọi đêm. Ngưng một cái rụp, như có người vừa đặt chân xuống đất.
Dế kêu lại. Muỗi bay về. Không ai nhúc nhích.
Tụi tôi nằm đó tới sáng. Không ai ngủ, mà chắc ai cũng có lúc thiếp đi một chút, vì tôi nhớ có đoạn tôi giật mình mở mắt mà không biết mình nhắm lúc nào. Trời đã xám. Gà rừng gáy ngoài bìa lô.
Người dậy sau cùng là anh Sáu. Anh nằm ngửa, đầu gối lên ba lô, súng gác ngang bụng. Tôi định lay anh dậy thì khựng tay lại.
Trên ngực anh có cái khăn rằn. Gấp vuông vức, ướt sương, đặt ngay ngắn chỗ trái tim như người ta đặt vòng hoa. Chính cái khăn chị Nguyệt đã nhốt trong hộp đạn, chặn cục gạch, cách đó năm chục thước.
Anh Sáu mở mắt, thấy cái khăn, thấy tôi. Anh không la. Anh cầm khăn lên, ngồi dậy, rồi theo thói quen cầm khẩu súng lên coi.
Đầu nòng súng bị bít kín. Một cục mủ cao su đã đông, trắng ngà, tròn trịa, nhét khít vô miệng nòng như cái nút chai. Anh Sáu lấy que khều ra. Cục mủ dài gần một đốt ngón tay, còn hằn rõ dấu một đầu ngón cái ấn vào.
Ngón cái đó nhỏ. Nhỏ hơn ngón tay của bất cứ người đàn ông nào trong trung đội.