Chương 2: Cành vải đầu vườn
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Sáng ra con bù nhìn lại quay vào hiên. Y như hôm trước, mặt bó rơm nhìn thẳng vào cánh cửa gian giữa, cái nón nghiêng xuống một chút.
Lần này tôi đến sát mà nhìn. Cái đoạn tre làm tay vẫn buộc ngang cọc, nhưng sợi dây không phải sợi dây chiều qua. Chiều qua tôi thấy nó buộc bằng lạt giang, thắt kiểu nút chết người già hay thắt. Giờ là một đoạn dây thừng đay cũ, thắt một cái nút lạ. Hai vòng dây vắt chéo, chừa ra hai cái quai nhỏ hai bên như hai cái tai. Nút chặt, gọn, đẹp. Tôi cầm vào thấy dây còn ẩm sương.
Tôi hỏi bà Sen có buộc lại tay bù nhìn không. Bà bảo tay bà giờ run, buộc cái lạt còn khó, thừng đâu mà buộc. Bà không hỏi tôi vì sao hỏi.
Buổi sáng ấy tôi tự hái cây vải đầu vườn. Cây to nhất vườn, gốc hai người ôm, có một cành ngang mọc chìa ra phía nhà, thấp hơn mấy cành khác. Tôi bắc thang, trèo lên, đặt chân vào chạc ba. Ở mặt trên cành ngang ấy, chỗ cách thân chừng hai sải tay, có một vết hằn. Vỏ cây ở đó lõm xuống thành một rãnh tròn quanh cành, lâu năm vỏ liền lại nhưng vẫn thành ngấn, như một cái nhẫn mọc vào gỗ.
Tôi cao một mét sáu. Đứng dưới đất kiễng chân, giơ thẳng tay, tôi chưa chạm được tới cành ấy.
Giờ nghỉ trưa, các chị hái thuê ngồi dưới gốc vải giữa vườn ăn cơm nắm. Tôi mang ấm chè ra mời. Chè vào thì chuyện ra. Chị Nga kể, mấy chị kia thỉnh thoảng chen vào sửa một chữ.
Cái Hảo là con gái út bà Sen, sinh năm sáu chín. Năm chín mươi nó hai mươi mốt tuổi, xinh nhất thôn, đi chợ Chũ bán vải thì lái buôn dưới xuôi xúm lại mua. Ông Lự, bố nó, là người khó tính nhất xóm. Mùa vải năm ấy tự dưng cả chợ rỉ tai nhau cái Hảo có chửa. Có chửa với một lão lái buôn dưới xuôi đã có vợ. Người ta nói có người thấy nó đi ra khỏi lều lão ấy lúc khuya.
"Thế có thật không chị?"
Chị Nga nhún vai. "Ai biết. Hồi ấy tôi mới lấy chồng về đây. Chỉ biết ông Lự đánh nó một trận, cả xóm nghe tiếng. Mấy hôm sau thì nó chết. Treo cổ ở cây vải đầu vườn kia kìa."
"Đám ma thế nào hả chị?"
"Làm gì có đám ma. Người chết như thế, lại mang tiếng như thế. Nghe đâu nhà nó chôn đêm, chôn luôn trong vườn, không ai biết chỗ. Từ ấy bà Sen không đi chợ Chũ nữa."
Một chị già hơn, chị Lan, nói thêm. Sáng hôm ấy chị đi chợ sớm, thấy ông Lự đứng dưới gốc vải, tay cầm con dao quắm, cái dây thừng đứt lủng lẳng trên cành. Ông đốt cái gì trong bếp, khói bay ra vườn khét lẹt. Chị chỉ thấy có thế.
Tôi ngồi nghe mà thấy cổ họng khô. Cái kiểu chuyện ấy tôi biết. Năm tôi bỏ chồng, cả xóm tôi ở Thanh Hà cũng rỉ tai nhau rằng tôi có người khác dưới Hải Phòng, chứ đàn bà ai tự dưng bỏ chồng. Không ai hỏi tôi. Mẹ tôi khóc ba ngày, không dám ra chợ. Tôi chịu được vì tôi ba mươi tuổi, tôi tự kiếm ra tiền, tôi lên xe đi được. Một đứa con gái hai mươi mốt tuổi năm chín mươi thì đi đâu.
Chiều, tôi bưng chậu nước ra hiên cho bà Sen rửa chân. Bà ngồi trên bậc hiên, nhìn ra vườn. Tôi hỏi khẽ, cô Hảo dáng người thế nào hả bà.
"Bé loắt choắt. Đứng chưa đến vai bố nó. Đi chợ quẩy hai sọt vải, người ta chỉ thấy sọt chứ chả thấy người."
Bà nói rồi cười một cái, rất nhẹ, như nhớ ra một chuyện vui. Rồi bà thôi cười.
"Người ta kể với cô rồi chứ gì."
Tôi không biết nói gì, bảo vâng. Bà gật, không nói thêm. Bà vốc nước rửa mặt, vốc hai lần, lâu lắm.
Chiều tối anh Đức gọi điện, bảo xe kẹt ở Chi Lăng, chín giờ mới qua lấy hàng. Tôi ngồi canh sọt ngoài sân, đèn tuýp treo dưới mái hiên, muỗi vo ve. Trước khi vào nằm, tôi lại ra vườn xoay con bù nhìn quay mặt ra đường. Lần này tôi lấy thêm một sợi dây dù buộc thân nó vào một gốc cọc phụ, thắt ba nút chết.
Nửa đêm tôi tỉnh vì tiếng nói.
Không phải ngoài vườn. Ngay trong nhà. Giọng bà Sen, từ gian buồng bên kia, nói qua cái cửa sổ trông ra vườn. Giọng bà khàn, nhỏ, đều đều như người nói với người nhà.
"Về rồi đấy à."
Một lúc im. Mùi thuốc lào lại bay vào, ngai ngái lẫn mùi vỏ vải ủ dưới gốc.
"Thôi. Đứng đấy làm gì. Sương xuống rồi."
Tôi nín thở. Ngoài vườn không có tiếng trả lời. Chỉ có tiếng sợi dây dù tôi buộc chiều nay, căng ra, rít lên một tiếng dài, rồi bật đứt.