Chương 3: Phiếu chuyển tiền Tết
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Sáng hôm sau con bù nhìn không còn ở chỗ cũ.
Cái lỗ cọc trước gốc vải đầu vườn bỏ trống, miệng lỗ tròn, đất ẩm. Sợi dây dù đứt rời nằm vắt trên cỏ, đầu đứt tưa ra như bị kéo chứ không phải bị cắt. Con bù nhìn đứng cách đó ba bước, gần nhà hơn, cọc tre cắm thẳng xuống đất mới, đất quanh chân được nện chặt. Mặt nó vẫn nhìn vào hiên. Hai tay nó lại buộc bằng cái nút có hai quai.
Tôi đứng đó, sáng sớm mà người vã mồ hôi. Nhổ một cái cọc cắm sâu thế lên, đào lỗ mới, nện đất, cần một người khoẻ và mất ít nhất một tiếng. Đêm qua tôi không nghe thấy tiếng cuốc. Chỉ nghe tiếng dây đứt.
Tám giờ, chị Nga đến với ba người. Hai người kia nhắn qua chị là không đi nữa. Chị Nga nhìn con bù nhìn đứng lệch chỗ, không nói gì, chỉ lấy tay làm dấu gì đó trước ngực rồi đi thẳng vào hàng vải cuối vườn, xa cây đầu nhất.
Năm ấy vải được mùa mà mất giá. Thương lái Trung Quốc ở Tân Thanh ép giá từng ngày, sáng một giá, chiều một giá. Tôi ôm điện thoại cả buổi, gọi anh Đức, gọi chỗ đầu nậu, gọi mẹ tôi ở nhà hỏi giá dưới Thanh Hà. Hái không kịp thì quả chín nẫu trên cây, hái kịp mà người không có thì cũng thế. Tôi tính, nếu cả đám hái bỏ đi, vụ này tôi lỗ.
Trưa hôm ấy bà Sen gọi tôi vào buồng. Bà lấy dưới gầm giường ra một cái hộp sắt đựng bánh quy đã gỉ mép, mở nắp, đẩy sang tôi.
"Cô đọc giúp tôi cái này. Mắt tôi giờ đọc chả được. Thằng Hưng nó gửi, tôi muốn biết năm nay nó gửi bao nhiêu."
Trong hộp là một xấp phiếu chuyển tiền, loại giấy mỏng có in hoa văn xanh của bưu điện. Mỗi tờ gấp tư, xếp theo năm. Tôi trải ra trên chiếu đếm, được hai mươi tư tờ. Tờ cũ nhất đề năm 1994, gửi hai mươi nghìn đồng. Tờ mới nhất là Tết vừa rồi, một triệu rưỡi. Tờ nào cũng gửi vào khoảng hai mươi tháng Chạp.
Ô người gửi chỉ ghi hai chữ: Người nhà. Ô lời nhắn để trống. Dấu bưu điện gửi đi, tờ nào cũng giống nhau, mực tím đã nhoè: Bưu điện văn hoá xã Na Dương, Lộc Bình, Lạng Sơn.
Tôi đọc to số tiền năm nay cho bà. Bà gật gù, bảo thằng Hưng nó thương mẹ.
Tôi hỏi anh Hưng ở đâu. Bà bảo ở Đắk Lắk, đi kinh tế mới từ năm tám bảy, lấy vợ trong ấy, mấy năm mới gọi điện một lần. Tôi hỏi sao anh ở Đắk Lắk mà tiền gửi từ Lạng Sơn. Bà ngớ ra một lúc, rồi bảo chắc nó nhờ bạn nó, bạn nó buôn bán trên ấy.
"Năm nào nó gửi tôi cũng mua cân thịt, gói bánh. Còn lại tôi để đấy. Để làm gì thì tôi chưa biết."
Tôi gấp các tờ phiếu lại đúng nếp cũ. Lúc gấp tờ năm 1994, tôi thấy ở mặt sau, chỗ góc dưới, có mấy nét bút bi đã mờ. Như ai cầm bút định viết rồi thôi. Một chữ "U", nét móc cuối kéo dài ra, rồi một vệt gạch ngang xoá đi.
Tôi không nói gì với bà Sen về chữ ấy. Tôi chỉ hỏi, giọng cố cho thật bình thường, cô Hảo ngày xưa gọi bà là gì.
"Gọi u. Cả nhà này gọi u."
Bà đóng nắp hộp sắt. Bà ngồi im một lúc, tay đặt lên nắp hộp, rồi nói, không phải trả lời tôi mà như tự nói:
"Ông nhà tôi bảo nó chết rồi. Ông bảo thế thì là thế. Ông ấy lập bát hương cho nó ở góc bàn thờ, cô thấy đấy. Hai mươi bảy năm tôi thắp cho nó."
Tôi nhìn sang bàn thờ gian giữa. Ở góc trái có một bát hương nhỏ bằng sành, không có ảnh, không có bài vị. Chân hương cắm đầy, đỏ và xám chen nhau.
Chiều ấy chỉ có bốn người hái. Tôi phải tự trèo, tự cắt, tự quẩy. Tối mệt đến không nuốt nổi bát cơm. Tôi không ra xoay con bù nhìn nữa. Tôi chỉ đóng cửa sổ, cài chốt, nằm quay lưng vào tường.
Nửa đêm tôi lại tỉnh vì cái im. Dơi tắt tiếng. Dế tắt tiếng. Mùi thuốc lào len qua khe cửa sổ.
Lần này tôi không nằm im. Tôi ngồi dậy, kê mắt vào khe hở giữa hai cánh cửa gỗ.
Trăng mười bốn, vườn sáng mờ như phủ một lớp tro. Con bù nhìn đứng ở chỗ mới, cách hiên chừng mười bước. Nó đứng im, cái nón lá trên đầu trắng lên dưới trăng. Tôi nhìn nó, rồi nhìn lại, và lạnh dần từ gáy xuống.
Chiều nay con bù nhìn ấy cao ngang vai tôi. Tôi đã đứng cạnh nó, tay tôi còn đặt lên vành nón.
Cái bóng đứng ngoài kia cao hơn tôi một cái đầu.