☾ Truyện Ma Có Thật
← Vườn vải có bù nhìn

Chương 4: Người đứng giữa hàng vải

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Tôi đứng sau khe cửa không biết bao lâu. Cái bóng ngoài vườn không nhúc nhích. Gió không có, lá vải không động, chỉ có mùi thuốc lào cứ đặc dần lên như có người đứng ngay dưới cửa sổ mà rít.

Tôi mấp máy môi, gần như không thành tiếng.

"Cô Hảo."

Cái bóng không động đậy. Không quay sang. Cái nón vẫn hướng thẳng vào cửa gian giữa, nơi bà Sen ngủ.

Rồi then cửa gian giữa kêu cạch. Bà Sen bước ra hiên, tay cầm cái chén chè. Bà đi chậm, lần từng bước, đặt chén chè xuống bậc hiên thứ ba. Bà không nhìn ra vườn. Bà nói nhỏ, vừa đủ cho tôi nghe qua vách:

"Uống đi rồi về. Đứng mãi người ta cười cho."

Bà quay vào, cài then. Tôi nhìn lại ra vườn. Cái bóng vẫn ở đó, nhưng thấp xuống, chỉ còn bằng con bù nhìn. Tôi không biết nó thấp xuống lúc nào. Tôi nằm lại giường, mở mắt đến sáng.

Sáng ra chén chè vẫn đầy trên bậc hiên. Mặt nước nổi một lớp váng, và mấy con kiến nổi lềnh bềnh. Bà Sen đổ chén chè vào gốc cau, không nói gì, cũng không hỏi tôi đêm qua có nghe thấy gì không. Tôi cũng không hỏi bà.

Mấy hôm sau trong xóm rộ chuyện trộm vải. Mùa nào cũng thế, bọn thanh niên xóm trên lúc nghiện lúc không, đêm mang bao tải đi vặt trộm, sáng đem xuống chợ Chũ bán rẻ. Nhà ông trưởng thôn mất hai cây. Vườn bên cạnh nhà bà Sen bị bẻ gãy cả cành. Chị Nga bảo tôi phải canh, vải của tôi đã trả tiền rồi, mất là tôi mất.

Tôi mượn chị một cái đèn pin ba pin, một cái còi. Chồng chị là anh Toản sang ngồi canh cùng hai đêm đầu, ngồi trên cái chõng tre kê ở rìa vườn phía sau, hút thuốc lá, kể chuyện đi lính ở Hà Giang. Hai đêm yên. Đêm thứ ba anh Toản bị gọi đi chở vải xuống Bắc Giang, tôi ngồi một mình.

Đêm ấy không trăng. Tôi tắt đèn pin cho đỡ hút muỗi, ngồi ôm gối trên chõng, nghe dơi đập cánh. Gần khuya dơi im. Cái im ấy giờ tôi đã quen, quen đến mức người tôi cứng lại trước khi đầu kịp nghĩ.

Mùi thuốc lào. Rồi tiếng lá động ở hàng vải giữa, nặng hơn tiếng dơi, đều như bước chân.

Tôi bật đèn pin, rọi thẳng về gốc vải đầu vườn. Chỗ con bù nhìn đứng trống trơn. Chỉ có cái cọc tre trơ, không áo, không nón, không đoạn tay ngang.

Tôi lia đèn sang hàng vải giữa. Có người ở đó. Một người đàn ông. Lưng quay về phía tôi, đội cái nón lá, mặc cái áo nâu. Cao, vai rộng, áo bó chật trên lưng như mặc nhầm áo của ai. Người ấy đi giữa hai hàng vải về phía bờ rào sau vườn, không vội, không quay lại. Ánh đèn pin rọi vào lưng người ấy mà tôi thấy như rọi vào một tấm vải đen, ánh sáng không bám vào được.

Tôi không thổi còi. Tôi không làm được gì. Tôi chỉ ngồi đó cầm cái đèn run lên bần bật trong tay.

Ở bờ rào sau vườn có tiếng gì đổ đánh rầm. Rồi tiếng người kêu, tiếng thanh niên, the thé:

"Ma! Ma! Chạy đi chúng mày!"

Tiếng chân chạy rầm rập qua ruộng lúa bên kia rào, tiếng xe máy nổ, rồi xa dần. Tôi lia đèn lại hàng vải giữa. Không còn ai.

Tôi ngồi trên chõng đến khi trời xám. Gà gáy đợt hai, tôi mới dám đi ra bờ rào. Hàng rào tre bị đạp gãy một đoạn. Trên cỏ vứt lại hai cái bao tải, một cái đã đầy vải, cành vẫn còn lá. Một con dao rựa. Một cái mũ bảo hiểm vỡ quai.

Tôi quay lại gốc vải đầu. Con bù nhìn đứng trên cái cọc tre như chưa từng rời đi. Áo nâu, tay ngang, cái nút hai quai. Cái nón lá đội lệch, và ở vành nón có thêm một vết rách mới, toạc từ mép vào gần đến chóp, lá nón bung ra như bị cành cây quào phải.

Trưa hôm ấy chị Nga đến, mặt hớn hở. Chị kể bọn trộm xóm trên đêm qua sang vườn bà Sen, bị ma đuổi, một đứa ngã xuống mương gãy tay, sáng nay nằm nhà khóc như con nít. Cả thôn đang bàn tán.

"Đấy. Cái Hảo nó giữ vườn cho u nó. Cô ở đây cô lo gì."

Tôi hỏi chị, bọn nó có tả con ma thế nào không. Chị Nga xua tay.

"Bọn nghiện nói thì tin làm gì. Chúng nó bảo là một thằng đàn ông."