☾ Truyện Ma Có Thật
← Vườn vải có bù nhìn

Chương 5: Nén hương bên bờ rào

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Sau đêm bọn trộm bị đuổi, cả đám hái thuê quay lại đủ năm người. Chị Nga bảo ma giữ vườn thì ma lành, sợ gì. Các chị vẫn không ai trèo cây đầu vườn, nhưng đã dám ở lại đến năm giờ chiều. Vải đi được hai chuyến xe một ngày. Tôi bắt đầu tính đến chuyện có lãi.

Ngày hai mươi tháng Năm âm lịch, tôi gặp bà Tâm.

Chiều ấy tôi đang ghi sổ ngoài sân thì thấy một người đàn bà đi men theo bờ rào bên hông vườn, chỗ giáp với con ngõ đất dẫn xuống suối. Người gầy, đen, ngoài năm mươi, đội cái nón mê, tay cầm một bó hương và một đĩa nhựa đựng mấy quả vải với miếng trầu. Bà ta dừng lại ở chỗ bờ rào gần cây vải đầu nhất, bên ngoài rào, cắm hương vào một cái khe đất giữa hai gốc tre. Bà đứng chắp tay, mắt nhìn qua rào về phía cành vải ngang.

Tôi đi ra. Bà ta thấy tôi thì cúi đầu chào, không có vẻ gì ngại.

"Cô là người buôn vải thuê sân bà Sen à. Tôi ở xóm bên kia suối, tôi là Tâm."

Tôi hỏi bà thắp cho ai. Bà bảo thắp cho người nhà. Năm nào cũng thắp ở đây, bà Sen biết, bà Sen không nói gì.

"Người nhà bác mất ở đây ạ?"

Bà Tâm nhìn tôi một cái, ánh mắt thẳng và mệt. "Em trai tôi. Mất năm chín mươi. Sốt rét. Nó đi rừng làm keo, về lên cơn, ba hôm thì đi. Chôn vội lắm, cô ạ. Hồi ấy nghèo."

"Thế sao bác lại thắp ở đây?"

Bà không trả lời ngay. Bà cúi xuống sửa lại mấy quả vải trên đĩa, xếp cho thẳng hàng.

"Nó thích vườn này. Hồi bé nó hay sang đây chơi."

Bà đứng thêm một lúc, rồi hỏi tôi một câu mà tôi không ngờ:

"Con bù nhìn vẫn quay vào nhà à?"

Tôi bảo vâng. Bà Tâm gật đầu như đã biết trước. Bà nhìn lên cành vải ngang chìa ra phía hiên, cái cành có vết hằn. Môi bà mím lại.

"Sao bà Sen không chặt cái cành ấy đi nhỉ."

Nói xong bà quay lưng, đi xuống ngõ đất về phía suối. Ba nén hương cháy đến nửa thì tắt cả, dù không có gió.

Tối ấy tôi kể với bà Sen là gặp bà Tâm. Bà Sen đang têm trầu, tay dừng lại.

"Nó đến à. Ừ. Năm nào nó cũng đến."

"Em trai bác Tâm là ai hả bà?"

"Thằng Tịnh. Con nhà ông Đỗ bên kia suối. Ngày bé nó bám cái Hưng nhà tôi suốt." Bà nói rồi gói miếng trầu lại, không ăn, đặt xuống khay. "Nó chết cùng năm với cái Hảo. Năm ấy xóm này chết hai đứa trẻ. Ai cũng bảo năm ấy hạn."

Tôi muốn hỏi thêm, nhưng bà đã đứng dậy đi vào buồng.

Sáng hôm sau, tôi ra vườn sớm như mọi bận. Con bù nhìn không quay vào nhà.

Nó cúi xuống.

Cái cọc tre bị bẻ gập ở ngang lưng, không gãy hẳn, thớ tre toác ra trắng hếu. Nửa trên con bù nhìn chúi về phía hiên, cái nón lá úp gần sát đất, hai cánh tay tre chống xuống cỏ. Như một người quỳ, cúi rạp đầu. Như người ta lạy.

Tôi đã lớn lên ở nông thôn. Tôi đã thấy người ta lạy trong đám ma, lạy trước bàn thờ tổ, lạy xin tha. Cái dáng ấy tôi không nhầm được.

Tôi không dám động vào nó. Tôi để nguyên thế cho các chị hái thuê đến thấy. Chị Nga nhìn, mặt tái đi, lần đầu tiên chị không nói được câu nào. Chị Lan lẩm bẩm gì đó rồi bỏ về. Còn lại ba người.

Bà Sen ra hiên lúc chín giờ. Bà nheo mắt nhìn con bù nhìn rất lâu. Rồi bà bảo tôi dựng nó lên hộ bà. Tôi lấy dây buộc nẹp hai đoạn tre lại, dựng con bù nhìn đứng thẳng, quay mặt ra đường như cũ. Bà Sen đứng sau tôi nhìn, không nói gì cả buổi.

Đêm ấy tôi không ngủ được. Mãi gần sáng tôi mới chợp mắt, thì nghe một tiếng huỵch ngoài vườn, như có bao gạo rơi xuống đất.

Tôi chạy ra. Đèn pin rọi tới gốc vải đầu. Bà Sen ngồi bệt dưới đất, trước con bù nhìn, cái quạt nan rơi bên cạnh, chân trái gập lại một góc không bình thường. Con bù nhìn lại gập xuống, đúng chỗ nẹp, cái nón chúi xuống sát đầu bà.

Tôi đỡ bà dậy. Người bà nhẹ như một bó rơm. Bà bấu vào tay tôi, run, nhưng không phải vì đau.

"Nó lạy tôi. Cô ơi, nó lạy tôi."

Bà nhìn lên cái nón lá rách vành, nước mắt chảy xuống những nếp nhăn.

"Con tôi việc gì mà phải lạy u nó."