☾ Truyện Ma Có Thật
← Vườn vải có bù nhìn

Chương 6: Mưa giông đầu tháng Sáu

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Bà Sen không gãy chân, chỉ trẹo cổ chân, sưng tím lên to như quả bưởi con. Chị Nga gọi ông lang Khơi ở đầu thôn đến bó lá. Ông giã một nắm lá gì xanh thẫm, đắp lên, quấn vải màn, dặn nằm yên mười hôm. Ông nhìn con bù nhìn ngoài vườn qua cửa sổ, rồi quay đi, không hỏi han gì.

Chiều hôm ấy giông kéo về từ phía Sơn Động. Trời tối sầm lúc mới bốn giờ, gió quật tán vải nghe như sóng. Rồi mưa, mưa nặng hạt, quất xiên vào hiên. Anh Đức gọi bảo đường xuống Chũ ngập một đoạn, xe không vào được. Hai chục sọt vải xếp dưới mái hiên tôi phải lấy bạt phủ, chèn gạch. Các chị hái thuê về hết từ trưa.

Tối, mất điện. Tôi thắp cái đèn dầu bà Sen cất trên gác bếp, nấu nồi cháo, bưng vào buồng. Bà nằm trên giường, chân gác lên cái gối mây. Tôi bón cho bà từng thìa. Bà ăn được nửa bát thì lắc đầu.

Mưa vẫn quất ngoài vách. Trong buồng chỉ có ánh đèn dầu lắt lay và mùi lá thuốc ngai ngái. Bà Sen nhìn lên mái ngói một lúc lâu, rồi bắt đầu nói. Không phải tôi hỏi.

"Năm ấy thằng Tịnh nó cũng sang hỏi cái Hảo đấy, cô ạ."

Tôi đặt bát cháo xuống.

"Ông Đỗ bố nó mang trầu cau sang. Thằng Tịnh hồi ấy được cái chăm, đan sọt khéo nhất xóm, lái buôn dưới xuôi lên đặt sọt nhà nó cả trăm cái một vụ. Ông nhà tôi ưng. Cái Hảo không ưng. Nó đứng sau buồng nói vọng ra, con không lấy anh ấy đâu. Thế thôi. Ông Đỗ mang trầu về."

Bà nghỉ một lúc, thở. Mưa dội ầm ầm trên mái.

"Được một tháng thì cả chợ đồn nó có chửa. Ông nhà tôi đi chợ về, mặt đen như đít nồi. Ông lấy cái roi mây đánh nó ngay giữa sân. Nó không chạy. Nó quỳ. Nó bảo, bố tin con một lần thôi. Ông bảo tao không có đứa con như mày, mày đi đâu thì đi."

"Đêm ấy nó đi thật. Nó mang mỗi cái túi cói, hai bộ quần áo. Cái nón nó treo lại trên cột cổng. Sáng ra tôi thấy cái nón, tôi biết là nó đi rồi."

"Ông nhà tôi đem cái nón ra vườn vứt. Rồi ông lập bát hương ở góc bàn thờ. Ông bảo, nó chết rồi. Từ hôm nay nhà này coi như nó chết rồi."

Tôi hỏi, giọng khô khốc, thế còn chuyện treo cổ.

Bà Sen nhắm mắt.

"Được bốn đêm. Tôi tỉnh dậy không thấy ông ấy trên giường. Gần sáng ông về, quần ướt sương đến bẹn, tay cầm con dao quắm, tay kia cầm một đoạn dây thừng. Ông đi thẳng vào bếp đốt cái gì đấy. Tôi hỏi, ông quát. Ông bảo từ giờ không ai được hỏi. Tôi không hỏi nữa."

"Người ta kháo nhau là cái Hảo về treo cổ ở cây vải đầu vườn, ông tôi cắt xuống, chôn đêm. Ông không cãi. Ông không cãi một câu nào với ai. Đến năm chín ba ông ngã ở gốc vải, cấm khẩu, nằm được hai hôm thì đi. Cũng không nói gì."

"Thế bà có tin cô ấy chết không?"

Bà Sen mở mắt. Ánh đèn dầu in hai đốm nhỏ trong mắt bà.

"Tôi chả biết. Ông bảo chết. Người ta bảo treo cổ. Tôi chưa thấy mồ nó. Hai mươi bảy năm tôi thắp hương cho nó mà tôi cứ nghĩ, hay là nó đang ở đâu."

Tôi hỏi, cái nón ông vứt đi rồi sao giờ lại ở trên đầu con bù nhìn. Bà bảo sau đám ma ông, bà ra vườn tìm. Cái nón mắc trên cành vải đầu, đúng cái cành ngang ấy, vành đã sứt. Bà không biết ai mắc nó lên. Từ đấy mùa nào bà cũng đội nó cho bù nhìn, để cái Hảo có chỗ mà về.

Tôi kể với bà về chữ "U" bị gạch ở mặt sau tờ phiếu năm chín tư. Kể chậm, rõ từng chữ. Bà Sen nằm im. Lâu lắm. Rồi bà quờ tay sang nắm lấy cổ tay tôi. Tay bà lạnh, bấu rất chặt.

"Cô đi Lạng Sơn suốt. Cô hỏi giúp tôi. Đừng nói với ai."

Tôi hứa. Bà buông tay, quay mặt vào tường.

Tôi ra gian ngoài nằm. Mưa đã nhỏ dần, chỉ còn tí tách trên lá. Đèn dầu tôi để trên bàn, vặn thấp. Dơi không về đêm ấy, vì mưa. Nhưng cái im lại đến, cái im quen thuộc, và mùi thuốc lào đi kèm, lần này lẫn mùi đất ướt, mùi rơm mục.

Tôi chống tay nhỏm dậy, nhìn qua khe cửa sổ.

Con bù nhìn đứng thẳng trong mưa. Hai thanh nẹp tôi buộc ban sáng rơi dưới chân nó. Chỗ cọc tre toác ra đã khép lại, lành lặn như chưa từng gãy.

Nó không nhìn vào gian giữa nữa. Cái nón lá rách vành quay sang một bên, nhìn thẳng vào cửa sổ gian ngoài, nơi tôi đang nằm.