☾ Truyện Ma Có Thật
← Vườn vải có bù nhìn

Chương 7: Đêm ở gốc vải đầu

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Ba hôm sau bà Sen chống gậy đi lại được trong nhà. Vải cây đầu vườn chín rộ, đỏ ối cả một góc, dơi bu kín mỗi tối. Tôi vẫn chưa hái nó. Các chị hái thuê thì không ai bén mảng đến.

Tôi quyết định ngồi đêm ở đó.

Tôi không nói với bà Sen. Tôi chỉ bảo chị Nga, chị nhìn tôi như nhìn người dở hơi. Chị dúi cho tôi một nắm gạo muối gói trong lá chuối, bảo cầm lấy, ai biết. Tôi cầm.

Tối ấy tôi trải một manh chiếu cói dưới gốc vải đầu, ngay dưới cành ngang có vết hằn. Con bù nhìn tôi dựng lại đứng thẳng, mặt quay ra đường, cách chỗ tôi ngồi một sải tay. Tôi mang theo đèn pin, một chén chè nóng, một nén hương chưa thắp. Tôi không biết mình định làm gì với nén hương. Có lẽ để tay có cái mà cầm.

Đầu hôm dơi về ầm ĩ. Quả rụng lộp bộp quanh chiếu. Tôi ngồi nhặt, bóc ăn, cho đỡ sợ. Vải cây đầu ngọt lịm, cùi dày, hạt lép. Cây tốt nhất vườn.

Gần khuya, mọi tiếng tắt cùng một lúc.

Không phải tắt dần. Như có ai đóng một cánh cửa lên cả khu vườn. Dơi im, dế im, cả tiếng xe máy xa xa ngoài đường liên xã cũng không còn. Mùi thuốc lào đến, đặc, hăng, ngay sát mặt tôi.

Trên đầu tôi, cành vải ngang kêu kẽo kẹt.

Tôi không ngẩng lên. Tôi nhìn thẳng ra trước, nhìn con bù nhìn. Cái cọc tre trơ trọi. Không áo, không nón, không tay.

Cành vải trên đầu kêu một tiếng nữa, trĩu xuống, như có một vật nặng vừa treo vào. Lá vải rơi lả tả lên tóc tôi. Rồi trước mặt tôi, ngang tầm mắt, có hai bàn chân.

Hai bàn chân trần, to, của đàn ông. Gót nứt nẻ đen. Mu bàn chân dính những vệt nhựa vải đã khô, nâu sậm. Hai bàn chân ấy lơ lửng, đung đưa rất nhẹ, mũi chân chúc xuống.

Tôi không thở được. Tôi chỉ nhắm mắt lại, bóp chặt nắm gạo muối đến mức hạt gạo đâm vào lòng tay.

Khi tôi mở mắt, hai bàn chân không còn ở đó.

Có một người đàn ông đang quỳ dưới đất, giữa tôi và hiên nhà, lưng quay về phía tôi. Áo nâu chật căng trên vai. Nón lá trên đầu. Người ấy quỳ thẳng, hai tay chắp trước ngực, đầu hướng vào cửa gian giữa.

Tôi bật đèn pin. Tay tôi run, vệt sáng nhảy lên nhảy xuống trên lưng áo nâu, rồi dừng ở gáy.

Gáy người ấy có một vòng hằn. Thâm, tím, hằn sâu vào thịt, tròn quanh cổ như cái ngấn trên cành vải tôi thấy hôm trước.

Người ấy cúi rạp xuống. Trán chạm đất. Rồi ngẩng lên. Rồi lại cúi. Tôi nghe một giọng nói, giọng đàn ông còn trẻ, khàn đặc như cổ họng bị bóp, giọng vùng này nhưng nói rất chậm:

"Bác ơi. Cháu nói điêu."

Cúi xuống. Ngẩng lên.

"Cháu nói điêu. Cháu xin bác."

Hai bàn tay chắp lại của người ấy to, ngón dài, đầy những vết chai và những vết sẹo nhỏ li ti, như tay người làm tre cả đời bị dằm đâm.

Rồi người ấy thôi lạy. Cái đầu đội nón xoay lại, từ từ, về phía tôi.

Tôi thấy mặt. Một khuôn mặt con trai hai mươi mấy tuổi, gầy, gò má cao, môi thâm. Không có gì đáng sợ trong khuôn mặt ấy. Chỉ có đôi mắt, mở to, nhìn tôi như người đã đứng đợi ở bến cả đêm mà không ai chở.

Người ấy giơ một tay ra. Bàn tay đặt lên vai tôi. Nặng như một cái sọt vải đầy. Lạnh. Lạnh xuyên qua lớp áo, buốt đến tận xương bả vai.

Tôi không nhớ gì nữa.

Chị Nga lay tôi dậy khi trời đã sáng bạch. Tôi nằm co trên manh chiếu, đèn pin hết pin, chén chè đổ. Nắm gạo muối vãi khắp chiếu. Chị Nga đỡ tôi ngồi lên, rồi đứng sững nhìn ra phía hiên.

Con bù nhìn nằm sấp dưới đất, cách hiên nhà bà Sen chừng ba bước. Cái cọc tre gãy đôi, gãy gọn, như bị chặt. Nửa trên với cái áo nâu và đôi tay tre úp mặt xuống đất, cái nón lá chụp lên trên như người phủ phục. Nó đã bò được đến tận đó.

Vai áo bên phải của tôi lấm đầy vụn tre và mùn rơm, ám mùi thuốc lào không giặt nổi.

Tôi đi ra chỗ con bù nhìn nằm, cúi xuống gỡ cái nút có hai quai buộc đôi tay tre. Nút chặt, phải mất một lúc lâu. Tôi cuộn đoạn thừng đay ấy lại, bỏ vào túi quần.

Người quỳ lạy bà Sen suốt bao nhiêu năm ấy không phải con gái bà. Tôi cần biết, trong cái thôn này, ai từng thắt nút như thế.