Chương 8: Nút hai tai
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Tôi để con bù nhìn nằm nguyên chỗ nó nằm. Bà Sen chống gậy ra hiên, nhìn thấy, rồi quay vào. Bà không bảo tôi dựng lên nữa.
Chiều hôm ấy tôi để chị Nga trông cân, đi bộ ra quán nước đầu thôn. Quán là cái lều tre dựng dưới gốc nhãn, có chõng, có ấm chè xanh, có điếu cày dựng ở cột. Người già trong thôn ngồi đấy từ trưa đến tối. Chị Nga bảo muốn hỏi chuyện cũ thì hỏi ông Thiều, ông ngồi quán ấy bốn chục năm, ngày xưa chuyên đi thu sọt cho lái buôn.
Ông Thiều ngoài bảy mươi, gầy, lưng thẳng, đội mũ bộ đội đã bạc màu. Tôi ngồi xuống chõng, mời ông chén chè, rồi lấy trong túi quần ra cuộn thừng đay, đặt lên chõng, gỡ ra cho thấy cái nút còn hằn nếp.
Ông Thiều nhìn cái nút. Tay ông đang cầm chén chè dừng giữa chừng.
"Cô lấy cái này ở đâu?"
Tôi bảo ở vườn bà Sen. Ông đặt chén xuống, cầm đoạn thừng lên, lật đi lật lại, ngón tay cái miết lên hai cái quai nhỏ.
"Nút hai tai. Cả cái Lục Ngạn này chỉ một đứa thắt kiểu này. Thằng Tịnh con ông Đỗ. Nó buộc sọt, quai sọt nào cũng thắt hai tai, lái buôn dưới xuôi nhìn cái quai là biết sọt nhà ông Đỗ, trả thêm mỗi sọt năm hào. Đứa nào học nó cũng không thắt ra được thế."
Ông đặt đoạn thừng xuống, như đặt một vật nóng.
"Thằng ấy chết hai mươi bảy năm rồi."
Tôi hỏi ông, giọng tôi tự dưng run, anh Tịnh chết thế nào.
Ông Thiều rót chè, uống một hơi, lâu không nói. Mấy ông già ngồi chõng bên cạnh đã thôi nói chuyện, cũng ngồi nhìn.
"Người ta bảo sốt rét."
"Thế có phải không ông?"
Ông nhìn ra đường. Một chiếc xe tải chở vải chạy qua, bụi đỏ bốc lên mù mịt. Ông đợi bụi lắng mới nói.
"Mùa vải năm ấy, ngay sau lúc nhà ông Đỗ mang trầu sang hỏi cái Hảo không được, thằng Tịnh nó uống rượu ở chợ Chũ. Tôi ngồi cùng mâm. Nó say, nó nói cái Hảo chê nó vì cái Hảo đã có chửa với lão lái buôn. Nó nói to. Cả dãy hàng nghe. Hôm sau thì cả chợ nghe. Một tháng sau thì cả huyện."
"Có thật không ông?"
"Thật cái gì. Thằng ấy nói điêu vì tức. Tôi biết. Tôi nhìn mặt nó lúc nói tôi biết. Mà tôi không cãi. Hồi ấy ai cãi làm gì chuyện đàn bà con gái nhà người ta."
Hai chữ "nói điêu" làm tôi lạnh gáy. Tôi kể cho ông nghe về đêm qua, về người quỳ lạy, về câu nói ấy. Tôi kể hết, không giấu chỗ nào.
Ông Thiều nghe xong thì ngồi im rất lâu. Một ông già ngồi chõng bên cạnh, tôi không biết tên, khẽ khàng đứng dậy đi về. Ông Thiều rút điếu cày ở cột, nhồi thuốc, châm lửa, rít một hơi dài. Khói thuốc lào bay ngang mặt tôi. Đúng cái mùi ấy.
"Thằng Tịnh nó nghiện thuốc lào từ mười lăm tuổi," ông nói. "Điếu nó cũng tự làm."
"Ông ơi. Anh Tịnh chết ở đâu?"
Ông Thiều nhìn tôi. Ông lắc đầu.
"Tôi hứa với ông Đỗ rồi. Ông ấy chết rồi mà tôi vẫn hứa. Cô đừng hỏi tôi."
Tôi không hỏi nữa. Nhưng lúc tôi đứng dậy, ông nắm lấy cổ tay tôi, giữ lại. Giọng ông hạ xuống, chỉ đủ hai người nghe.
"Có điều này thì tôi nói được. Cái sáng người ta bảo cái Hảo treo cổ, cả thôn này chưa một ai thấy cái xác. Thế thì ai bảo cô là cái Hảo chết?"
Tôi đi về trong cái nắng xiên khoai. Trên đường tôi đếm lại những gì mình có. Cái vết hằn trên cành vải, cao quá tầm tay một đứa con gái đứng chưa tới vai bố. Cái nút hai tai. Mùi thuốc lào. Một người con trai đã đi hỏi vợ không được, rồi đi khắp chợ nói điêu, rồi chết cùng tuần với cô gái ấy. Một xấp phiếu chuyển tiền gửi từ một xã có mỏ than ở Lạng Sơn, mặt sau một tờ có chữ "U" bị gạch.
Về đến cổng, tôi gọi điện cho anh Đức. Tôi bảo sáng mai anh chở tôi lên Lộc Bình. Anh hỏi lên đấy làm gì, giờ này vải không ai mua ở đấy. Tôi bảo có việc riêng.
Tôi vừa cất điện thoại thì thấy có người đứng ở cổng. Bà Tâm. Bà đứng nép vào cột cổng, nón mê cầm trên tay, như đã đứng đợi từ lâu. Mặt bà trắng bệch dưới nắng chiều.
"Cô đi hỏi ông Thiều rồi à."
Tôi gật. Bà Tâm nhìn qua vai tôi, về phía con bù nhìn nằm sấp trước hiên.
"Cô định đi tìm cái Hảo phải không. Nếu cô gặp được nó." Bà ngừng lại, nuốt khan. "Cô bảo nó, nhà tôi xin nó."