☾ Truyện Ma Có Thật
← Vườn vải có bù nhìn

Chương 9: Quán tạp hoá ở Na Dương

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Anh Đức chở tôi đi từ năm giờ sáng. Xe tải không, chạy theo đường 31 lên Đình Lập rồi rẽ sang đường 4B về Lộc Bình. Đường đèo, sương phủ thấp trên những đồi thông. Anh Đức hỏi mấy lần tôi lên đấy làm gì. Tôi chỉ bảo đi tìm một người nhà của bà chủ sân. Anh thôi hỏi, bật đài nghe cải lương.

Na Dương là một thị trấn mỏ. Đường phố đen bụi than, mái nhà đen, lá cây ven đường cũng phủ một lớp xám. Bưu điện văn hoá xã là một gian nhà cấp bốn quét vôi vàng, cạnh chợ. Cô nhân viên trẻ ngồi quầy lắc đầu, bảo không được tra người gửi. Tôi đang đứng lúng túng thì một bà đứng tuổi ở bàn trong ngẩng lên, nhìn tờ phiếu tôi cầm trên tay.

"Phiếu Tết gửi về Lục Ngạn đấy à?"

Tôi bảo vâng. Bà gỡ kính, nhìn tôi từ đầu đến chân.

"Ba chục năm tôi ngồi đây, chỉ có một người ghi người gửi là người nhà. Chị Hảo quán tạp hoá cạnh cổng mỏ. Năm nào tôi cũng bảo chị ghi tên vào, chị không ghi."

Tim tôi đập lên đến cổ họng.

Quán tạp hoá cạnh cổng mỏ là một gian nhà ống hai tầng, trước cửa bày bao gạo, can dầu, thùng mì tôm, dây phơi treo đầy găng tay bảo hộ và ủng cao su. Một người đàn bà đang đứng xếp mấy két nước ngọt. Người bé, thấp, chắc chỉ đến ngang vai tôi. Gầy, da sạm, tóc cắt ngắn ngang gáy. Ngoài bốn mươi.

Tôi đứng ở ngưỡng cửa, cầm tờ phiếu năm chín tư. Tôi gọi.

"Cô Hảo."

Người đàn bà quay lại. Mắt nheo lại, nhìn tôi, như cố nhìn cho rõ một thứ ở xa. Cái nheo mắt ấy tôi đã thấy mỗi trưa ngồi ăn cơm bên mâm bà Sen.

"Chị là ai?"

Tôi bảo tôi buôn vải, thuê sân nhà bà Sen ở Đồng Mản. Cái két nước ngọt trên tay cô tuột xuống đất, mấy chai vỡ, nước sủi bọt chảy lênh láng ra hè.

Cô Hảo đưa tôi lên gác. Chồng cô là ông Thào, người Tày, thợ mỏ đã nghỉ, ra trông quán. Cô ngồi đối diện tôi trên chiếu, hai tay nắm chặt tờ phiếu tôi đưa. Ngón tay cái cô miết lên chữ "U" bị gạch ở mặt sau.

"Tôi viết rồi tôi sợ. Sợ u đọc được thì bố lại đánh u. Tôi không biết là bố mất rồi. Đến cuối năm chín ba tôi mới biết."

Tôi kể với cô về con bù nhìn. Kể từ đầu: cái nón lá của cô, sáng nào cũng quay vào hiên, cái nút hai tai, mùi thuốc lào, người đàn ông quỳ lạy, câu nói ấy. Cô Hảo nghe, mặt không đổi, chỉ có hai vai cứ rung lên từng chặp.

Khi tôi nói đến câu "cháu nói điêu", cô nhắm mắt.

"Anh Tịnh."

Cô kể. Giọng cô vẫn còn nguyên giọng Lục Ngạn, chữ cuối hạ xuống nhẹ như hơi thở, y như bà Sen.

"Đêm tôi đi, anh ấy đứng đợi tôi ở bờ rào bên hông vườn. Chỗ bụi tre ấy. Anh ấy quỳ xuống, ngay giữa đường đất. Anh ấy bảo, tớ nói điêu, tớ say, tớ tức, mai tớ ra chợ nói lại với cả chợ, Hảo đừng đi. Tôi bảo, anh nói lại thì ai tin. Tôi bảo, anh có chết thì tôi cũng không tha cho anh."

Cô ngừng. Ngoài cửa sổ, một đoàn xe chở than chạy qua, kính rung lên lạch xạch.

"Tôi ra đường đứng vẫy xe than. Lên đây, ở nhờ nhà một bà bán chè, rồi lấy anh Thào. Được một năm thì có người buôn vải dưới ấy lên, kể chuyện cái thôn Đồng Mản. Họ bảo năm ngoái con gái út nhà ông Lự treo cổ ở cây vải đầu vườn. Họ bảo ông Lự lập bát hương cho con. Tôi hỏi, thế còn thằng Tịnh nhà ông Đỗ. Họ bảo thằng ấy chết cùng tuần, sốt rét."

"Tôi biết ngay. Tôi biết anh ấy làm gì. Tôi nói một câu, anh ấy làm thật."

"Thế sao cô không về?"

Cô Hảo cười, một cái cười méo đi.

"Về thế nào hả chị. Bố coi tôi chết rồi thì tôi chết. Cả thôn bảo tôi treo cổ rồi. Tôi về thì tôi là cái gì. Rồi tôi có con, nhà chồng tôi không ai biết. Mỗi năm tôi gửi về cho u ít tiền, thế thôi. Hai mươi bảy năm tôi không ăn một quả vải."

Chúng tôi ngồi im. Dưới nhà, ông Thào quét chỗ chai vỡ, tiếng chổi sột soạt.

Điện thoại trong túi tôi rung. Chị Nga. Tôi nghe máy, giọng chị cuống quýt, lẫn tiếng gió.

"Hường ơi, bà Sen ra vườn từ trưa, ngồi bệt cạnh con bù nhìn, gọi thế nào cũng không vào. Bà cứ nói chuyện với nó. Bà bảo nó, thôi, con đứng dậy đi. Mà cái bù nhìn tôi vừa nhìn, nó đang dựng dậy đấy, Hường ạ. Không ai dựng mà nó dựng dậy."

Tôi buông điện thoại xuống. Cô Hảo đã đứng lên. Cô lấy cái túi vải treo ở đinh, không gấp lấy một bộ quần áo, chỉ nhét vào đấy tờ phiếu năm chín tư.

"Chị chở tôi về."