Chương 3: Bùa cột chưn
Khoảng 5 phút đọc·2lượt xem
Ba ngày sau, má dắt thằng Tí qua ấp Bờ Dâu tìm ông thầy Hai Chiếu. Tôi đi theo chèo xuồng. Chiếc xuồng của tía, chỗ trét dầu chai còn chưa khô hẳn.
Ông Hai Chiếu ngồi trên bộ ván, trước mặt là cái mâm nhôm có ly gạo, chén nước, nhang cắm lổn chổn. Ông cầm cổ chân thằng Tí lật qua lật lại, ngó lâu lắm, rồi phán một câu làm má tôi tái mặt.
"Bị nắm rồi. Nó chọn thằng nhỏ."
Ông viết lên một mảnh giấy vàng mấy chữ ngoằn ngoèo, gấp nhỏ, nhét vô cái túi vải đỏ bằng hai đốt ngón tay. Ông bỏ thêm một tép tỏi, ba hột gạo, rồi lấy chỉ đỏ cột túi vô cổ chân trái thằng Tí. Ông dặn không được tháo, tắm cũng không tháo, mất là phải quay lại liền. Má đưa ông năm chục ngàn, gần bằng tiền bán một tạ lúa.
Trên đường về thằng Tí cứ cúi xuống ngó cái túi vải. Nó hỏi tôi con ma da có sợ tỏi hông. Tôi nói chắc sợ. Nó gật gù, yên tâm.
* * *
Tối đó bà Tư Rớt qua nhà ngồi uống trà. Bà kể cho má nghe, mà kể lớn, như muốn hai chị em tôi cùng nghe.
Năm 1996, cũng mùa nước, có một cô giáo trẻ ở điểm trường Kinh Ngang tên Duyên. Quê ngoài Cao Lãnh, xuống dạy được hai năm. Học trò ở mấy xóm sâu trong đồng không có xuồng, cô mượn một chiếc xuồng tam bản, ngày ngày chèo đi gom từng đứa.
Một buổi chiều có giông. Xuồng lật ở khúc gốc gáo. Ba đứa học trò sống. Cô Duyên chết. Hai ngày sau người ta mới tìm được cô, mắc trong rễ gáo.
"Chết trẻ, chết oan, chết dưới nước, thì thành ma da chớ gì," bà Tư nói. "Nó ở đó năm năm rồi. Năm nào cũng lật xuồng ở khúc đó. Nó kiếm người thế cho nó đi đầu thai."
Tôi hỏi bà, năm năm lật xuồng vậy có ai chết không. Bà Tư ngó tôi, chép miệng, nói con nít biết gì mà hỏi. Rồi bà quay qua má, nói nhỏ lại mà tôi vẫn nghe:
"Lần đầu nó thử. Lần hai nó nắm. Lần ba là nó hổng tha đâu, thím Ba."
* * *
Má tính cho thằng Tí nghỉ học tới khi nước rút. Dượng Bảy không chịu.
Dượng ngồi ở hiên, tay vẫn vót cái mộng ghế, nói không ngẩng đầu. Dượng nói nghỉ ba tháng là ở lại lớp. Dượng nói con nít xóm này đứa nào cũng chèo ngang gốc gáo mà đi học, có đứa nào ở nhà đâu. Dượng nói có bùa rồi, sợ gì.
Má nói hay đi đường kinh, vòng xa một chút. Dượng nói đường kinh ghe máy chạy ầm ầm, sóng đánh lật xuồng ba lá còn lẹ hơn. Má im. Má cúi xuống lau cái bàn đã sạch.
Cuối cùng má chịu. Hai chị em đi học lại, đi đường gốc gáo.
* * *
Tuần đó chú Tư bên nội ở Hồng Ngự đi ghe xuống thăm. Chú là em ruột tía tôi, từ hồi tía mất ít khi ghé. Chú ôm thằng Tí, nắn tay nắn chân nó, hỏi han tôi, rồi ngồi uống với dượng một xị rượu. Lúc đầu nói chuyện lúa, chuyện nước. Một hồi thì lớn tiếng.
Tôi nằm trong buồng nghe được mấy câu. Chú Tư nói ba công ruộng ông nội để lại, giấy tờ đứng tên thằng Tí, là của nhà bên nội, không ai được đụng. Chú nói nó đủ mười tám thì nó quyết, chừng đó chú không nói tới. Dượng Bảy nói gì đó tôi nghe không rõ. Má nói một câu, nhỏ mà gắt, rồi khóc.
Chú Tư về lúc trời chạng vạng. Ra tới bến, chú ngó chiếc xuồng của tía, ngó vệt dầu chai dưới sạp mũi, đứng lâu. Rồi chú quay qua tôi.
"Con coi chừng em con nghen, Lành."
Tôi gật. Lúc đó tôi tưởng chú nói về con ma da.
* * *
Bữa sau, rồi bữa sau nữa, chỗ dưới sạp mũi vẫn có vũng nước. Dượng đã trét dầu chai, vậy mà sáng nào nó cũng nằm đó, một gáo dừa, trong veo. Tôi tát đi. Tôi không hỏi dượng nữa.
Thằng Tí bây giờ ngồi mũi thì co một chân lên sạp, cái chân có cột bùa. Nó nói như vậy con ma da hổng với tới. Ngang gốc gáo, nước vẫn ấm, mùi phấn vẫn bốc lên. Có bữa tôi ngửi thấy trước khi thấy cây gáo. Lạ một điều, tôi không còn sợ cái mùi đó như hồi đầu. Mỗi lần nó bốc lên, tôi lại nhớ cái bàn tay áp vô lưng mình, đẩy lên.
Cái tôi bắt đầu sợ là chuyện khác.
* * *
Đêm thứ Bảy, tôi thức giấc lúc khuya. Nhà tôi là nhà sàn thấp, vách lá, nằm trong buồng nghe được tiếng nước vỗ dưới bến sau. Đêm đó ngoài tiếng nước còn có một tiếng khác.
Kẹt. Kẹt. Kẹt.
Chậm, đều, khô khốc. Như ai đó đang cạo, hay đang vặn một thứ gì vô gỗ. Nó phát ra từ phía bến, chỗ chiếc xuồng úp trên hai khúc cây.
Tôi nghĩ tới con ma da của bà Tư. Tôi nghĩ tới cái bàn tay ở dưới nước rờ chân thằng Tí qua cái lỗ mà nó nói. Tôi kéo mền trùm đầu, nằm cứng đơ. Thằng Tí ngủ kế bên, cái chân có bùa gác lên bụng tôi, cái túi vải đỏ lành lạnh.
Tiếng kẹt kẹt kéo dài chừng một khắc rồi tắt. Tôi nằm chờ mà không nghe tiếng chân ai đi vô.
Sáng ra tôi ra bến trước dượng. Chiếc xuồng vẫn úp y chỗ cũ. Tôi cúi xuống ngó đáy. Vệt dầu chai tròn cỡ đồng xu vẫn còn, đen bóng. Ngay cạnh nó, cách chừng một lóng tay, có một chấm đo đỏ, nhỏ hơn hột bắp, bóng như giọt đèn cầy nhỏ xuống rồi nguội.
Tôi lấy móng tay cạy thử. Nó không ra.