Chương 4: Nước ấm giữa đồng
Khoảng 5 phút đọc·2lượt xem
Tháng Chín qua tháng Mười, nước lên thêm hai gang tay. Ngọn lúa ma mất hẳn. Cánh đồng giờ chỉ còn nước, mấy cây điên điển trổ bông vàng, và gốc gáo đứng một mình ở giữa.
Hai chị em đi học đều. Sáng nào tôi cũng tát vũng nước dưới sạp mũi, sáng nào cũng ngó cái chấm đo đỏ cạnh vệt dầu chai. Nó không lớn thêm. Có bữa nó bóng, có bữa nó mờ như bị ai lấy ngón tay miết. Tôi không nói với ai. Mười bốn tuổi, tôi không biết phải nói với ai một chuyện mà chính mình cũng không gọi được tên.
Ngang gốc gáo, nước vẫn ấm. Tôi bắt đầu đếm nhịp chèo từ lúc ngửi thấy mùi phấn tới lúc hết mùi. Chừng sáu chục nhịp. Không lần nào hơn, không lần nào kém. Như một lớp học có giờ vô, giờ ra.
* * *
Một buổi trưa đi học về, tôi gặp ông Chín ở bến chợ. Ông đang bốc mấy bao lúa giống xuống ghe. Ông là người vớt hai chị em tôi bữa đó, nên tôi đứng lại phụ ông một tay, rồi lựa lời hỏi.
Tôi hỏi ông có biết cô giáo Duyên không.
Ông Chín ngưng tay. Ông ngồi xuống be ghe, móc gói thuốc rê ra vấn, vấn xong rồi mà không đốt. Ông nói năm đó chính ông cũng là người vớt cô.
"Cổ mắc trong rễ gáo, con à. Mà hổng phải mắc. Hai tay cổ còn ôm cái rễ, kiểu như người ta ôm cột nhà cho khỏi té. Ba đứa nhỏ ngồi trên mấy nhánh rễ phía trên, ướt nhem, khóc hổng ra tiếng."
Ông nói cô Duyên biết lội. Ông nói khúc gốc gáo đâu có sâu, chỗ sâu nhứt chỉ ngập đầu người lớn. Ông nói một người biết lội mà chết ở chỗ đó thì chỉ có một lẽ: cô đã lặn xuống, đẩy lên, rồi lặn xuống, đẩy lên, cho tới đứa thứ ba thì hết hơi.
"Tay cổ trắng hết, mấy đầu ngón," ông Chín nói. "Phấn đó con. Cổ dạy bài xong là xuống xuồng liền, hổng kịp rửa tay."
Tôi đứng im. Tôi nhớ năm dấu ngón tay trắng trên lưng mình.
* * *
Tôi hỏi ông Chín, từ năm đó tới giờ, xuồng lật ở khúc gốc gáo có ai chết không.
Ông ngẫm nghĩ. Ông nói có lật, năm nào cũng nghe một hai vụ, mà nhớ lại thì hổng ai chết. Có người ôm được gốc gáo, có người tự lội vô. Ông nói chắc tại số.
"Còn hai chị em con," ông nói, rồi đốt điếu thuốc, "lật bữa đó trời đứng gió, nước đứng như nước ao. Ông chạy ghe ba chục năm, chưa thấy xuồng lật kiểu đó."
Tôi về nhà, cả buổi chiều nghĩ câu đó.
* * *
Tối, má bày ra đổ đèn cầy. Má làm việc này mỗi tháng một lần, khi lon sữa bò đầy sáp. Má nấu chảy sáp trong cái lon khác, nhúng sợi tim bằng chỉ vải vô, nhúng lên nhúng xuống cho sáp bám dày, rồi treo lên cây sào cho nguội.
Tháng này má mở cái lon ra, ngó vô, rồi đặt xuống.
Lon gần như trống. Dưới đáy còn chừng một lớp mỏng bằng lóng tay, cạy ra chỉ được mấy miếng vụn. Má lắc đầu, nói chuột dữ quá, ăn sáp cũng ăn. Má nói thôi để mai ra chợ mua một bó đèn mới.
Dượng Bảy ngồi ở hiên. Dượng nói để dượng đặt bẫy chuột. Tôi ngó lên vách sau lưng dượng.
Trên vách lá, chỗ hai cây cột kèo bắt chéo, có mấy cây đinh to tía đóng hồi xưa để treo đồ nghề. Cây cưa tay, cây bào, cái thước gấp, cái khoan tay quay của tía. Cái khoan đó tía mua ở chợ Hồng Ngự, cán gỗ, tay quay sắt, mũi khoan to cỡ ngón tay út. Từ hồi tía mất nó treo đó, không ai đụng tới, vì dượng có đồ nghề riêng.
Tối hôm đó cây đinh treo cái khoan trống trơn.
Tôi ngó lại lần nữa cho chắc. Trống. Tôi không hỏi. Tôi không biết vì sao mình không hỏi.
* * *
Sáng hôm sau cái khoan đã treo lại chỗ cũ. Cán gỗ hơi ẩm, như vừa được chùi bằng giẻ ướt.
Sáng hôm sau nữa là thứ Hai. Tôi dậy sớm hơn thường lệ, định ra bến coi xuồng trước. Ra tới nơi, dượng đã ở đó, chiếc xuồng đã nằm dưới nước, dây đã cột. Dượng đứng trên bậc bến, ngó tôi, nói hôm nay dượng đẩy sớm cho hai đứa khỏi trễ. Rồi dượng đi lên nhà, lướt ngang qua tôi, người có mùi dầu chai và một mùi khác, ngai ngái, như khói đèn vừa tắt.
Tôi bước xuống xuồng. Tôi cúi xuống chỗ dưới sạp mũi.
Vũng nước vẫn ở đó. Nhưng hôm nay nó không mát.
Tôi nhúng tay vô. Nước ấm. Ấm y như nước ở khúc gốc gáo. Tôi đưa ngón tay lên mũi. Mùi phấn. Thoang thoảng thôi, nhưng không lầm được, cái mùi khô, bột, hơi chua của lớp học.
Ở đây, cách gốc gáo nửa tiếng chèo. Ngay bến nhà mình.
* * *
Tôi đứng trong xuồng, tay còn ướt. Tôi nghĩ, con ma da theo về tới nhà. Bà Tư nói đúng. Lần hai nó nắm.
Nhưng có một ý khác, nhỏ hơn, cứ chen vô. Bữa đó, dưới nước, cái bàn tay đã đẩy tôi lên. Nó không kéo xuống. Ông Chín nói năm năm nay ở gốc gáo không ai chết. Nếu nước ấm là cô Duyên, thì cô về đây làm gì.
Má đứng trên bờ kêu, Lành ơi, đem em đi kìa, trễ rồi.
Thằng Tí chạy xuống, ôm cặp, cái túi bùa đỏ lủng lẳng ở cổ chân. Nó leo lên sạp mũi, ngồi đúng chỗ của nó, co chân như mọi bữa. Tôi cầm chèo. Tôi định nói gì đó với nó, rồi không biết nói gì.
Lúc tôi đẩy xuồng ra khỏi bến, vũng nước dưới sạp mũi gợn lên một vòng tròn nhỏ. Không có gió. Không có cá. Chỉ một vòng tròn, nở ra từ một điểm, như ai đó ở dưới vừa gõ một ngón tay lên đáy xuồng.