Chương 6: Cô giáo năm chín sáu
Khoảng 5 phút đọc·2lượt xem
Ba ngày sau tôi hết sốt. Thằng Tí ở nhà, ngày ngày ngồi ở hiên xếp ghe giấy thả xuống bến. Nó không chịu ra gần chiếc xuồng của tía. Đi ngang qua chỗ xuồng úp, nó đi vòng.
Tôi đi học lại một mình, quá giang ghe máy của con ông Chín ra chợ xã. Buổi trưa tan học, tôi không về liền. Tôi lội bộ theo con lộ đất qua điểm trường Kinh Ngang.
Điểm trường là ba gian nhà lá cất trên nền đất đắp cao, mùa nước thì nước liếm tới bậc thềm. Học trò đã về hết. Trong gian giữa còn một cô giáo đứng tuổi đang ngồi chấm bài, đeo kiếng, tóc búi sau ót có cây kẹp nhựa. Tôi đứng ngoài cửa lâu, rồi mới dám vô chào.
Cô tên Sương. Thằng Tí học cô năm lớp một. Cô nhớ nó, hỏi sao mấy bữa nay hổng thấy nó đi học. Tôi kể. Kể tới khúc gốc gáo thì cô bỏ cây viết đỏ xuống.
* * *
Cô Sương dạy chung với cô Duyên hai năm. Hai cô ở chung một gian phòng nhỏ phía sau điểm trường. Cô nói cô Duyên nhỏ hơn cô sáu tuổi, người ốm nhom, tay chân lúc nào cũng dính phấn, nói chuyện nhỏ nhẹ mà học trò sợ.
"Xóm con nói cổ thành ma da, đòi thế phải hông," cô Sương hỏi.
Tôi gật. Cô Sương cười, mà là cái cười không vui.
"Năm đó cổ chèo ra gom ba đứa nhỏ ở xóm Bàu Sen. Chiều về, giông nổi. Xuồng lật ở gốc gáo. Cổ lặn xuống ba lần, đẩy từng đứa lên rễ cây. Tới lần thứ ba thì cổ hổng lên nữa. Ba đứa đó giờ đứa nào cũng lớn, có đứa đã có con. Mùa nước năm nào tụi nó cũng chèo ra gốc gáo thắp nhang."
Cô nói từ đó tới giờ, cô nghe mấy vụ lật xuồng ở khúc đó. Lần nào cũng có người kể lại là được ai đẩy lên. Cô nói cô không tin ma. Nhưng cô tin cô Duyên.
"Cổ đâu có kéo ai, con. Cổ chỉ đẩy lên. Cả đời cổ chỉ biết làm có một việc."
* * *
Cô Sương đứng dậy, đi vô gian phòng phía sau. Một hồi cô ra, tay cầm một cái hộp phấn bằng giấy cứng, loại hộp phấn trắng cũ có in hình cây bút chì. Trong hộp còn bảy, tám viên phấn, viên nào cũng đã cầm qua tay, mòn một đầu.
Cô nói đây là hộp phấn cuối cùng cô Duyên dùng. Cô giữ nó năm năm. Cô đưa cho tôi.
"Con đem ra gốc gáo cho cổ. Nói cảm ơn giùm cô."
Tôi cầm cái hộp. Nó nhẹ hều. Mùi phấn bốc lên đúng cái mùi ở gốc gáo. Khô, bột, hơi chua.
* * *
Tôi đứng lên định về. Cô Sương níu tay tôi lại. Cô hỏi thêm một câu mà tôi không ngờ một cô giáo hỏi.
"Mà xuồng nhà con lật sao vậy Lành."
Tôi nói không biết, tự nhiên nước vô.
"Hai lần, đều ở gốc gáo, mà trời đứng gió hả."
Tôi gật.
Cô Sương ngồi xuống lại. Cô tháo kiếng ra, chùi bằng vạt áo, chùi lâu, rồi đeo lên. Cô kể một chuyện khác. Cô nói cô Duyên có một cái tật mà hồi đó cô Sương hay chọc. Sáng nào trước khi chèo đi gom học trò, cô Duyên cũng lật úp chiếc xuồng, quỳ xuống, đưa bàn tay rờ khắp đáy, từ mũi tới lái, rờ từng đường mộng, từng con đinh. Cô Sương hỏi rờ chi vậy. Cô Duyên nói chở con nít người ta mà, phải coi kỹ.
"Bữa giông đó," cô Sương nói chậm, "là bữa duy nhứt cổ dậy trễ, hổng kịp rờ."
Cô ngó tôi qua cặp kiếng.
"Con về rờ đáy cái xuồng nhà con coi."
* * *
Tôi quá giang ghe về tới bến lúc trời đã chiều. Thằng Tí không ở hiên. Má đang nấu cơm dưới bếp, khói lá dừa bay mù mịt. Dượng Bảy ngồi ở bến sau, cạnh chiếc xuồng, tay cầm cây chổi lông gà nhúng vô thùng dầu chai.
Chiếc xuồng đang úp. Cả cái đáy, từ mũi tới lái, đen bóng một lớp dầu chai mới, dày cộm, còn ướt, bắt nắng chiều.
Không còn thấy vệt tròn cỡ đồng xu. Không còn thấy cái chấm đo đỏ. Cả cái đáy xuồng một màu đen trơn láng, như mặt nước đêm.
"Dượng trét lại hết rồi," dượng nói, không ngẩng lên. "Ván mũi mục, dượng thay luôn miếng mới. Hai bữa khô là xài được."
Tôi đứng đó, tay cầm hộp phấn của cô Duyên giấu sau lưng. Tôi hỏi dượng, miếng ván cũ đâu.
Dượng ngưng tay. Dượng ngó tôi, cái ngó rất lâu, rất bình thường.
"Mục rồi thì bỏ vô bếp chụm chớ để làm gì."
* * *
Bữa cơm tối, má gắp cá cho thằng Tí. Má nói đầu tuần sau cho nó đi học lại. Dượng sửa xuồng kỹ rồi, má đã qua ông thầy Hai Chiếu xin cái bùa mới, lần này ông dặn cột vô cả hai chân.
Thằng Tí cúi gằm, nhai cơm không nổi. Tôi nói để con chở nó ngồi phía lái với con. Má nói xuồng ba lá ngồi chung phía lái thì mũi chổng, chèo sao được. Má nói nó ngồi mũi như mọi bữa.
Tôi ngó má. Má ngó cái chén cơm.
Tối đó tôi ra bếp tìm miếng ván cũ. Tro bếp còn ấm, chỉ toàn tro trắng với mấy mẩu than. Nếu dượng có chụm nó thì nó đã cháy hết.
Khuya, cả nhà ngủ, tôi cầm hộp phấn ra bến. Không thắp đèn. Chiếc xuồng úp trên hai khúc cây, mùi dầu chai mới hăng nồng. Tôi quỳ xuống như cô Sương kể, đặt bàn tay lên đáy xuồng, chỗ dưới sạp mũi, chỗ miếng ván mới.
Ván ấm. Không phải cái ấm của nắng chiều còn sót. Nó ấm từ bên trong, như dưới lớp ván có một bàn tay khác đang áp lên, đúng chỗ tay tôi, ngón đối ngón.