Chương 9: Con quay của bố
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Sáng hôm sau trời mưa phùn. Ba người ngồi trong xưởng, cửa đóng, cái ấm nhôm trên bếp dầu sôi rồi nguội mấy lượt mà không ai rót. Bộ sập vẫn đứng đấy, ráp tạm, xiêu xiêu. Vệt nước trên nền đã khô, để lại một lớp phù sa mỏng màu gạch non, những dấu chân bé xíu in trên đó như ai đóng dấu.
Con quay nằm giữa bàn thợ. Bố tôi xoay nó trong tay mãi.
Rồi bố lấy mũi dao trổ cạo lớp xi đánh bóng ở đáy con quay, chỗ quanh cái đinh sắt. Lớp xi bong ra từng vảy nâu. Bên dưới, gỗ gụ còn màu đỏ tươi như mới tiện. Trên mặt gỗ có khắc hai chữ nho bé xíu, nét sắc, và cạnh đấy là một dấu lưỡi liềm nghiêng, lưng quay ra ngoài.
Bố tôi đọc được chữ nho. Ông dạy bố từ bé.
"Giáp Ngọ."
Năm 1954. Bố tôi sinh năm 1956.
Bố đặt con quay xuống. Rồi bố kể, không nhìn ai, kể như người ta đọc lại một bức thư thuộc lòng.
Hôm qua bố bỏ đi là đi sang nhà cụ Lãng. Bố hỏi thẳng cụ. Cụ ngồi im lâu lắm rồi mới nói. Năm năm tư, cụ mười chín tuổi, là thợ phụ theo ông tôi sang thị xã đóng đồ cho nhà ông Phán.
Chính cụ là người cõng ông ra khỏi cổng nhà ấy, cõng ra bến, chèo đò đưa ông về. Chân ông gãy, bó lá thuốc nằm ba tháng, liền lại thì lệch. Ông dặn cụ cả đời không được nói. Về làng thì bảo ngã giàn đình.
"Cụ Lãng bảo cụ biết ông yểm. Hôm ráp sập, ông đuổi cụ ra ngoài, ngồi một mình trong chái cả buổi. Cụ đứng ngoài nghe tiếng đục rất khẽ. Lúc cụ vào, ông đã đóng xong chân sập cuối, tay ông quấn giẻ, giẻ thấm máu."
Bố tôi nói tiếp. Hôm ráp sập là hôm ông nghe được ông Phán nói chuyện với vợ trong buồng. Ông Phán bảo thợ nhà quê, trả một phần ba là phúc, nó làm gì được. Ông về chái, không nói gì với cụ Lãng, chỉ ngồi mài cái đục sáu ly.
"Cụ bảo ông chỉ định cho ông Phán mất ngủ. Cho ông ấy nếm cái lạnh của thằng thợ lội bùn. Ông không biết thằng bé nằm phía chân."
Anh Quân ngồi im. Hai bàn tay anh đặt trên đùi, nắm lại rồi mở ra.
Tôi hỏi bố cụ Lãng có biết chuyện sau đó không. Chuyện cậu Khoa chết đuối ấy. Bố tôi lắc đầu. Bố bảo cụ Lãng chỉ nhớ ra Tết năm ấy có một đêm ông đi đâu đến sáng mới về, hỏi thì ông bảo đi tìm thầy. Mấy hôm sau tin thằng bé nhà ông Phán chết đuối mới sang đến làng. Cụ Lãng sang báo, ông nghe xong không nói gì. Từ đấy ông không bao giờ nhắc đến nhà ông Phán nữa, không bao giờ qua sông nữa.
"Thế bố biết từ bao giờ?"
Bố tôi im một lúc.
"Từ hôm mày chui ra từ gầm sập, cầm cái đục sáu ly. Cả đời bố chưa thấy ai mài đục mỏng như thế, trừ ông."
Bố tôi nói mà mắt cứ nhìn đi đâu đó. Tôi chưa thấy bố tôi như thế bao giờ. Ở làng, ai cũng bảo bố tôi giống ông, ít nói, cẩn thận, một là một, hai là hai. Bố thờ ông như thờ tổ nghề.
Anh Quân hỏi, giọng rất khẽ, bây giờ phải làm sao. Cụ Lãng bảo máu mủ người yểm, đồ nghề người yểm, tên cái vong. Đồ nghề có. Tên có. Máu mủ có. Nhưng làm thế nào, khấn thế nào, cúng thế nào, chẳng ai biết. Người biết thì đã chết sáu năm.
Tôi nghĩ đến bà nội. Đến cái bát nước ở gốc cau, cái tên Khoa lẫn trong gió. Bà biết. Bà biết từ hôm thấy bộ sập.
Ba người đội mưa sang nhà. Bà nội tôi ngồi ở giường trong buồng, cái giường gỗ xoan ông đóng cho bà năm hai người cưới. Bà đã thay áo cánh nâu mới, vấn khăn gọn gàng, như người chuẩn bị có khách. Trên đùi bà đặt một cái chìa khoá đồng to bằng ngón tay, buộc sợi dây gai đã mủn.
Đó là chìa khoá cái hòm đồ nghề của ông. Cái hòm gỗ lim để dưới gầm giường bà, từ hôm ông mất không ai được mở. Bố tôi từng xin mở để lấy đồ nghề, bà không cho, bảo đồ nghề ông dùng thường ngày đã để ngoài xưởng rồi, hòm này là đồ riêng của ông.
Bà nhìn anh Quân. Nhìn rất lâu, từ đầu đến chân, như bà Lựu đã nhìn tôi.
"Anh là cháu nhà ông Phán."
Không phải câu hỏi. Anh Quân cúi đầu, chắp tay.
"Dạ. Cháu là con bố Thạc. Cháu chào bà."
Bà gật. Bà cầm chìa khoá, chìa về phía tôi. Tay bà run, sợi dây gai đung đưa.
"Ông mày dặn bà. Bao giờ cái sập ấy về làng thì mở hòm ra. Đưa cho đứa cháu nào cầm cái đục của ông."
Tôi cầm lấy chìa khoá. Nó lạnh. Không phải cái lạnh của đồng. Lạnh như vừa được vớt từ dưới nước lên.