Chương 4: Lỗ bùa lỗ ban
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Người già nhất làng còn biết chuyện nghề ngày xưa là cụ Lãng ở xóm Chùa. Cụ năm nay tám mươi chín, làm thợ phó cả đời, cùng lứa học nghề với ông tôi. Cụ mù một mắt vì mùn cưa bắn vào năm nảo năm nao, mắt còn lại thì vẫn tinh. Chiều nào cụ cũng ngồi ở hiên, đẽo vớ vẩn mấy cái muôi gỗ cho con cháu đem bán chợ.
Tôi mang theo tờ giấy trong hộp sắt, gói trong nilông, mang thêm bao thuốc Thăng Long biếu cụ. Cụ đang ngồi đẽo, nghe tôi chào thì ngẩng lên.
"Thằng Tùng nhà thằng Hiếu à. Lâu lắm mới thấy mày sang. Có việc gì?"
Tôi kể qua về bộ sập. Không kể chuyện nằm mơ. Rồi tôi mở gói nilông, trải tờ giấy lên mặt chõng tre cho cụ xem.
Cụ đặt cái muôi đang đẽo xuống. Cụ không cầm tờ giấy. Cụ cúi sát xuống nhìn bằng con mắt còn lại, nhìn rất lâu, từ hình người nằm ngang, xuống ba lớp sóng nước, lên ô vuông đen, rồi dừng ở cái dấu vân tay nâu đỏ ở góc.
"Mày lấy cái này ra bằng tay à?"
"Con lấy bằng đục ạ."
"Đục của ai?"
Tôi không hiểu sao cụ hỏi thế. Tôi bảo đục của ông con. Cụ ngồi thẳng lên, nhìn ra cái ao trước nhà, không nói gì. Một lúc cụ mới bảo tôi châm cho cụ điếu thuốc.
Cụ kể. Ngày xưa, trước năm năm mươi, lò thợ Hạ Trạch theo một ông thầy là cụ Cử Mộc, người Thanh Hoá dạt ra đây. Cụ Cử dạy nghề, dạy cả thước Lỗ Ban. Thước Lỗ Ban là cái thước đo cung tốt cung xấu, đóng cửa, đóng giường, đóng quan tài đều phải theo. Đo vào cung xấu là nhà ấy gặp hạn. Thợ nào giận chủ thì chỉ cần đo lệch đi một li là đủ. Cái ấy thợ nào cũng biết, gọi là lỗ ban.
"Còn lỗ bùa thì khác. Lỗ bùa là đục một cái lỗ kín trong mộng, nhét bùa vào, bịt sáp lại. Bùa thì có nhiều thứ."
"Bùa cho vợ chồng chủ nhà cãi nhau. Bùa cho nhà ấy hao của. Bùa cho người nằm thì không yên giấc, cứ nửa đêm là trở dậy. Thợ bị khinh thì yểm cho bõ tức. Mấy thứ ấy nhẹ."
Cụ chỉ ngón tay cong queo vào ba lớp sóng nước trên tờ giấy.
"Còn cái này là bùa thuỷ. Cái này ác. Người nằm lên thì như nằm dưới nước, chân lạnh, ngực bị đè, đêm nào cũng như chết đuối. Mạt sắt là để đè, cho nó nặng. Người lớn nằm thì mất ngủ, gầy rộc đi. Người yếu bóng vía thì có khi mộng du, đi ra sông."
Tôi thấy chân mình lạnh dần lên dù đang ngồi giữa chiều.
"Thế làng mình ai biết vẽ bùa này hả cụ?"
Cụ hút thuốc. Khói cuộn lên trước con mắt mù trắng đục của cụ.
"Cụ Cử chỉ truyền bùa thuỷ cho một người. Người ấy chết rồi. Mày để người ta yên."
Tôi hỏi tiếp, cụ không trả lời. Cụ chỉ bảo, giọng nặng hơn, rằng tôi đã làm một việc dại. Bùa yểm trong mộng thì nó có chỗ neo. Cái gì bị nó trói thì nằm yên ở đấy, ai nằm lên sập mới bị quấy. Giờ tôi lấy nó ra không đúng phép, nó mất chỗ neo. Cái bị trói sẽ đi theo người lấy.
"Đi theo con ạ?"
"Theo mày. Theo tay mày. Mày cầm cái gì thì nó theo cái ấy."
Tôi hỏi gỡ thế nào. Cụ bảo bùa ai yểm thì người ấy gỡ. Người yểm chết rồi thì chỉ có máu mủ người ấy gỡ được, phải dùng đúng đồ nghề người ấy, có lễ, có khấn tên cái vong bị trói. Không biết tên thì gỡ không xong. Người ngoài như cụ có gỡ cũng chỉ như gãi ngứa cho nó.
"Thế cái vong ấy là ai hả cụ?"
"Tao biết đâu. Bùa này không phải để giết người. Nhưng nếu nhà ấy đã có người chết đuối, thì mày biết là ai rồi đấy."
Lúc tôi đứng dậy về, trời đã nhá nhem. Cụ Lãng gọi giật tôi lại ở cổng. Cụ đứng tựa cột, một tay vẫn cầm cái muôi đẽo dở.
"Này. Ông mày hồi còn sống, có bao giờ sang bên kia sông không?"
Tôi bảo không. Cả đời ông không qua đò bao giờ. Cụ gật đầu, như thể câu trả lời của tôi đúng như cụ đoán. Rồi cụ quay vào, không chào.
Tôi đi bộ về theo đường đê. Bên kia sông, đèn Ninh Bình đã lên, vàng vọt, chạy thành một dải dài. Gió sông thổi ngược, mang mùi bùn lên mặt đê. Tôi cứ có cảm giác có ai đi sau lưng mình, bước ngắn, bước nhanh, cách vài bước. Tôi không quay lại.
Về đến nhà, mẹ tôi đang đứng ở hiên, tay cầm cái chổi chít, mặt khó chịu. Mẹ hỏi tôi đi đâu mà lội bùn về rồi để chân ướt cả bậc thềm. Tôi nhìn xuống.
Trên bậc thềm gạch, từ ngoài sân dẫn vào cửa, có một hàng dấu chân ướt. Dấu chân trần, ngắn, bé. Bàn chân trẻ con, chừng tám chín tuổi. Hàng dấu chân dừng ngay ở bậc cửa, đúng chỗ tôi hay ngồi cởi dép.
Mẹ tôi bảo chắc thằng cu nhà hàng xóm sang chơi. Nhưng nhà hàng xóm hai bên không có đứa trẻ con nào tuổi ấy. Và dép tôi vẫn đang ở trên chân tôi, khô cong.