☾ Truyện Ma Có Thật
← Yểm trong mộng gỗ

Chương 6: Nhà cũ bên sông Vân

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Sáng thứ Năm tôi đi xe máy sang Ninh Bình. Từ làng tôi đi lên cầu, qua sông Đáy, chưa đầy bốn mươi phút. Đi qua cầu, tôi cứ nghĩ đến ông. Tám mươi năm ông không qua bên này lần nào. Ngày ấy chưa có cầu, nhưng đò thì bến nào cũng có.

Thành phố Ninh Bình bây giờ đông đúc, nhưng người già vẫn quen gọi là thị xã. Nhà bà Lựu ở một ngõ nhỏ sát bờ sông Vân. Đó là một ngôi nhà gạch hai tầng kiểu cũ, mái ngói ta, tường vàng đã mốc đen, cửa gỗ lim bốn cánh. Trước nhà có cái sân gạch rộng, góc sân là cây ngọc lan cao quá mái. Cả dãy phố chỉ còn mỗi nhà ấy là nhà cũ. Ngoài cổng đã dựng sẵn giàn giáo tre, đống cát đổ cao.

Bà Lựu bảy mươi chín tuổi, người nhỏ thó, tóc vấn khăn nhung đen. Bà ngồi trên cái phản gỗ trong gian giữa, nhai trầu. Con dâu bà rót nước rồi đi xuống bếp. Tôi nói tôi là thợ mộc đang sửa bộ sập anh Quân mua ở đây.

Bà nhổ bã trầu vào cái ống nhổ bằng đồng, lau miệng, nhìn tôi từ đầu đến chân.

"Cháu người bên Nam à? Bên kia sông?"

"Vâng, cháu ở Hạ Trạch ạ."

Bà gật gật, im một lúc. Rồi bà kể, giọng đều đều như kể chuyện mùa màng.

Nhà này ngày xưa là nhà ông Phán Tường, Hà Văn Tường, buôn gạo đường sông, giàu nhất phố. Năm năm tư bà hai mươi hai tuổi, đi ở cho nhà ông. Năm ấy ông Phán xây xong nhà mới, thuê thợ bên Nam Định sang đóng đồ. Thợ cả là một ông còn trẻ, chừng ba mươi, đi cùng một cậu thợ phụ. Họ làm ở ngay cái chái bên kia, ròng rã từ tháng Hai đến tháng Sáu.

"Ông thợ ấy khéo tay lắm. Ít nói. Ăn cơm xong là ngồi mài đục. Ông ấy có cái đục bé tí, mài mỏng như lá lúa, cả chái chỉ mình ông ấy dùng."

Bà kể ông Phán có ba người con. Con út là cậu Khoa, chín tuổi, con bà vợ hai. Cậu Khoa mê ông thợ lắm, chiều nào cũng ra chái ngồi xem. Ông thợ đẽo cho cậu một con quay gụ, tiện tròn, đóng đinh sắt, đánh xi bóng. Cậu đi đâu cũng cầm.

"Cậu Khoa ngủ với ông Phán trên cái sập ấy. Nằm phía chân. Từ bé đã thế, ông Phán thương con út lắm, không cho ngủ với mẹ."

Rồi bà kể chuyện tiền công. Đóng xong, ông Phán chỉ trả một phần ba. Ông bảo thợ ăn bớt gỗ, gụ là gụ của ông, thợ nhà quê được ăn cơm trắng ba tháng là phúc. Hôm ông thợ đến đòi, ông Phán sai hai người làm đánh. Đánh ngay giữa sân này. Bà đứng trong bếp nhìn ra.

"Đánh bằng đòn gánh. Đập vào chân. Ông thợ ngã quỵ ngay đấy, chỗ gốc ngọc lan ấy, chân phải gập ngược lại. Cậu thợ phụ phải cõng ông ra cổng. Ông Phán đứng trên thềm, bảo từ nay cấm bén mảng sang bên này sông."

Tôi ngồi im. Tôi nhìn ra gốc ngọc lan. Tôi nghĩ đến cái chân phải ngắn hơn một đốt ngón tay. Nghĩ đến chữ ngã giàn đình. Tôi cố gạt đi. Làng tôi ngày ấy bao nhiêu thợ đi làm thuê bên này sông. Đánh què thợ đâu phải chỉ có một nhà.

Bà Lựu kể tiếp, chậm hơn. Từ khi có cái sập, ông Phán ngủ không yên. Đêm nào cũng kêu lạnh chân, nửa đêm vùng dậy, mồ hôi vã ra. Cậu Khoa thì gầy rộc đi, sáng ra khóc bảo có người dưới gầm sập kéo chân. Bà vợ hai đòi mời thầy, ông Phán gạt đi, bảo con nít mơ ngủ.

"Tháng Giêng năm năm lăm. Sáng ngày rằm. Người ta vớt được cậu ở bến đò sông Đáy, chỗ ngã ba với sông Vân. Cách nhà gần một cây số. Đêm ấy cậu đi ra lúc nào không ai biết, cửa vẫn cài then. Lúc vớt lên, tay cậu còn nắm chặt con quay gụ."

Bà kể năm sau cải cách, nhà ông Phán bị chia. Ông Phán đi tù, chết trong tù. Mấy đứa con lớn đi biệt mỗi đứa một nơi. Ngôi nhà chia cho bố bà và hai hộ khác. Cái sập về phần nhà bà.

"Bố tôi nằm được một đêm thì thôi. Bảo lạnh như nằm trên quan tài. Từ đấy nhà tôi dùng kê thóc. Năm mươi năm nay, không ai nằm. Đến con mèo cũng không trèo lên."

Tôi hỏi bà ông thợ cả ấy tên là gì. Bà lắc đầu. Bà bảo người ở ngày ấy gọi thợ là bác thợ, ai biết tên. Chỉ nhớ ông ấy người bên kia sông, giọng Nam Định, lúc làm thì hát chèo nho nhỏ.

"Thế còn anh Quân hả bà?"

Bà nhìn tôi như nhìn đứa trẻ hỏi câu ngớ ngẩn.

"Thằng Quân là cháu nội ông Phán. Con thằng Thạc, anh ruột cậu Khoa. Nó về đây năm lần bảy lượt đòi mua lại cái sập. Bảo bố nó ốm nặng, muốn được nằm cái sập ấy trước khi chết. Tôi bán cho. Giữ làm gì cái của ấy."

Tôi về lúc xế chiều. Lúc tôi dắt xe ra cổng, bà Lựu chống gậy đi theo ra tận gốc ngọc lan. Bà đứng đúng chỗ năm mươi bảy năm trước có người ngã quỵ, nói với theo.

"Cháu ơi. Bác thợ ngày ấy, lúc cõng ra cổng, quay lại nhìn cậu Khoa mãi. Cậu Khoa đứng trên thềm khóc, giơ con quay lên. Bác ấy gào lên một câu. Tôi nhớ mãi đến giờ."

Bà ngừng lại. Bà nhai trầu, mắt nhìn ra sông.

"Bác ấy bảo, cậu đừng nằm cái sập ấy nữa nhé. Gào đến khản cổ. Mà khi ấy không ai hiểu bác ấy nói cái gì."