☾ Truyện Ma Có Thật
← Áo bệnh nhân thừa một cái

Chương 4: Cái hòm tôn của dì

Khoảng 4 phút đọc·10lượt xem

Sáng hôm sau dì Hằng dậy từ bốn giờ như thường lệ, xay bột, nhóm bếp than tổ ong. Dì nói chuyện với tôi bình thường, hỏi tôi ăn gì, dặn tôi mang áo mưa. Như thể đêm qua không có cánh cửa buồng nào cài then. Đến lúc tôi dắt xe ra ngõ, dì mới gọi giật lại.

"Mẹ mày mất vì tả. Viện đem đi hoả táng ngay hôm sau, sợ lây. Dì chỉ nhận được cái hũ tro với cái giấy báo tử. Thế thôi. Đừng đào bới nữa."

Dì nói nhanh, một hơi, như câu ấy đã thuộc từ lâu. Tôi gật đầu. Tôi để ý dì không nhìn tôi lúc nói.

* * *

Hôm ấy là chủ nhật, tổ giặt là nghỉ luân phiên, tôi được nghỉ. Dì ra chợ từ sớm. Tôi ở nhà một mình.

Nhà tôi là căn nhà cấp bốn mái ngói, ông bà ngoại để lại, sát phố ven sông. Buồng trong là buồng dì, từ bé tôi ít khi vào. Trong buồng có cái giường gỗ, cái tủ đứng, và dưới gầm giường là cái hòm tôn sơn xanh đã tróc, khoá bằng cái khoá con. Hồi nhỏ tôi hỏi trong ấy có gì, dì bảo giấy tờ đất cát.

Tôi biết dì giấu chìa ở đâu. Trẻ con ở với ai lâu thì biết người ấy giấu chìa ở đâu. Trong cái lọ hoa sứ trên nóc tủ.

Tôi ngồi xuống nền gạch, kéo cái hòm ra. Lúc mở nắp, tôi thấy tay mình hơi run, như đứa trẻ ăn vụng.

Trong hòm có sổ đỏ gói trong túi ni lông. Có mấy tấm ảnh đen trắng của ông bà ngoại. Có giấy báo tử của mẹ tôi, giấy pơ luya mỏng, chữ đánh máy: Lê Thị Nguyệt, ba mươi mốt tuổi, tử vong ngày mười lăm tháng Tám năm 1986, nguyên nhân bệnh tả. Dấu đỏ của viện đã nhoè.

Và dưới đáy hòm, gói trong một chiếc khăn mùi xoa đã ố vàng, là một cái áo nhỏ.

Tôi mở khăn ra. Áo sọc xanh trắng, cổ tròn, cúc xương nâu. Bé tí, vừa một đứa trẻ năm tuổi. Ngực trái có thêu chỉ đỏ, đã bạc gần thành màu gạch non.

Tôi chưa kịp nhìn rõ chữ thêu thì nghe tiếng cổng sắt kêu ken két. Dì Hằng về sớm.

Tôi vội gói lại, đẩy hòm vào gầm, cất chìa vào lọ hoa. Khi dì bước vào nhà, tôi đang đứng ở bếp đun nước. Dì nhìn tôi, nhìn về phía buồng, rồi đặt rổ bánh xuống.

Tối hôm ấy tôi lén vào lại buồng dì lúc dì tắm. Cái hòm tôn đã có thêm một cái khoá thứ hai.

* * *

Tôi không ngủ được. Tôi nằm nghĩ về cái áo nhỏ. Tôi nghĩ có thể đó là áo của một đứa trẻ nào khác, đứa nằm giường nhỏ đóng bằng ván thùng mà cô Nhàn kể, và mẹ tôi đã thương nó, giữ lại áo nó làm kỷ niệm. Nghĩ vậy thì yên tâm hơn. Nhưng tôi vẫn không ngủ được.

Gần sáng, tôi thiếp đi, và tôi thấy một chuyện mà tôi không biết là mơ hay nhớ.

Tôi nằm trong bóng tối. Lạnh. Cái lạnh từ dưới lưng lên, như nằm trên mặt sắt. Có tiếng nước nhỏ giọt ở đâu đó, đều đều, tách, tách. Có một bàn tay đặt trên trán tôi, lạnh hơn cả trán tôi. Một giọng đàn bà thì thầm sát tai, đếm theo tiếng nước nhỏ giọt cho tôi ngủ.

"Một. Hai. Ba. Ngủ đi con. Đếm đến một trăm là sáng."

Tôi tỉnh dậy, thấy gối mình ẩm một mảng. Không phải mồ hôi. Tôi úp mặt vào gối ngửi. Mùi sông.

* * *

Thứ hai đi làm, tổ thiếu người vì chị Dung nghỉ ốm. Bà Tư xếp tôi trực ca tối, giặt nốt đồ khoa Truyền nhiễm đến mười giờ. Bà dặn đi dặn lại, xong thì tắt máy, khoá cửa hầm, đừng ở lại.

Tôi đang gấp mẻ cuối thì mùi Javen trong hầm tự dưng loãng đi. Một luồng hơi lạnh lùa dọc hành lang, lạnh như hơi mở cửa tủ đá, dù ngoài trời đang nóng. Đèn tuýp nháy mấy cái rồi tắt hết. Tầng hầm tối đen. Tôi đứng im, chờ máy phát của viện chạy. Nghe tiếng máy nổ xa xa ở sân sau, rồi đèn hành lang sáng lên vàng vọt, nhưng đèn trong tổ giặt không sáng lại.

Trong bóng tối ấy, cái máy sấy số hai tự quay.

Tôi đã tắt nó từ lúc lấy mẻ trước ra. Tôi nhớ rõ. Nhưng tôi nghe tiếng lồng thép quay chậm, cọt kẹt, và tiếng vải lật bên trong, phịch, phịch.

Rồi tiếng quay ngừng. Và tôi nghe tiếng đếm.

Giọng đàn bà. Không to, không nhỏ, rất đều. Như người làm công việc này đã quen tay, đếm áo cho kịp ca.

"Ba mươi chín. Bốn mươi. Bốn mươi. Bốn mươi."

Con số ấy cứ lặp lại, không nhích lên được, như người đếm cầm mãi một cái áo trong tay mà không biết đặt vào chồng nào.

Tôi đứng sát bàn gấp, tay bám vào mép bàn. Tiếng đếm phát ra từ phía máy sấy. Rồi chuyển dần ra cửa tổ. Rồi ra hành lang. Về phía cuối hành lang. Về phía bức tường.

Tiếng đếm dừng. Một quãng im rất dài. Tôi nghe tiếng nước nhỏ giọt dưới chân bức tường. Tách. Tách.

Rồi giọng ấy cất lên lần nữa, không đếm nữa. Gọi. Dịu dàng, kéo dài chữ cuối, như người mẹ gọi con vào ăn cơm.

"Cún ơi."