Chương 7: Hai áo phát ra
Khoảng 4 phút đọc·10lượt xem
Bà Tư bảo thợ nghỉ tay, ra ngoài hút thuốc. Rồi bà bước qua lỗ tường, vào trong căn phòng ấy. Bà đi thẳng đến cái giường nhỏ, đứng nhìn cái áo khô gấp trên đó, không chạm vào. Tôi theo vào. Sàn phòng nhớp bùn. Tiếng nước dưới miệng cống nghe rõ hơn, róc rách, như có một con sông chảy ngay dưới chân.
Bà Tư ngồi xuống mép giường sắt. Lò xo kêu một tiếng dài. Bà nhìn tôi, và lần đầu tiên tôi thấy bà già đi như thế.
"Bà kể. Kể xong cháu muốn làm gì thì làm."
* * *
Năm 1986 bà Tư mười chín tuổi, mới vào tổ giặt được một năm. Mùa dịch, người trong tổ nghỉ dần vì sợ lây, cuối cùng chỉ còn bà và một bà cụ sắp về hưu. Phòng không ở ngay cạnh tổ giặt, không ai dám mang đồ xuống, nên bà mang.
"Mẹ cháu không ốm."
Bà nói câu ấy rồi im một lúc, như để tôi kịp nghe.
"Cháu đấy. Người ốm là cháu. Năm tuổi, đi ngoài cả ngày cả đêm, người khô như con mắm. Ca nặng, sợ lây cả khoa, thế là đưa xuống đây. Mẹ cháu nhất định không về. Kê thêm cái giường sắt cho mẹ nằm. Còn cái giường nhỏ này, của cháu."
Tôi nhìn cái giường ván thùng. Nó ngắn, ngắn đến mức tôi nằm lên thì chân thò ra quá nửa.
Tôi nhìn xuống mu bàn tay trái của mình, vết sẹo trắng to bằng hạt đỗ. Không phải cái đinh ở chân cầu thang.
"Kim truyền đấy," bà Tư nói. "Ven trẻ con bé lắm. Cô Nhàn chọc mấy lần mới được, sưng vù lên. Đến hôm thứ năm thì hết dịch truyền. Cả viện hết. Xe từ Hà Nội về chậm vì đường ngập."
* * *
Đêm mười bốn tháng Tám, bà Tư mang ga sạch xuống thì thấy cửa phòng bị khoá trái từ bên ngoài. Bác sĩ trực đã khoá, dặn sáng mới mở, vì ai cũng nghĩ đứa bé không qua được đêm ấy. Họ không muốn phải xuống nhìn.
Chùm chìa của tổ giặt có một chìa vừa ổ. Bà Tư mở cửa. Trong phòng tối, chỉ có cây nến cắm trên nắp hộp sữa bò. Mẹ tôi ngồi trên giường nhỏ, ôm tôi trong lòng. Tôi đã không khóc được nữa, mắt trợn, môi tím. Mẹ tôi đếm tiếng nước nhỏ giọt từ trần để ru tôi.
"Mẹ cháu hỏi bà xin thêm một cái áo cỡ lớn. Rồi hỏi bà chìa khoá nắp cống. Ngày ấy nắp cống phòng này nối với đường cống của tổ giặt, chìa tổ giặt giữ."
Bà Tư dừng lại. Tay bà bấu vào mép đệm mục.
"Phố ven sông ngày ấy ai chả bảo, sông nó đòi người. Nước lên, mang đi mấy đứa, thì nó mới rút. Mẹ cháu bảo bà, em ơi, để chị đi thay cho con. Bà mười chín tuổi. Bà sợ. Bà đưa."
Tôi nhìn miệng cống vuông dưới sàn. Nó rộng vừa một người gầy chui lọt. Dưới ấy tối đen, và tiếng nước chảy.
"Mẹ cháu thay áo mới, áo cỡ lớn ấy, rồi cởi cái áo ướt của cháu ra, mặc cho cháu cái áo nhỏ còn lại. Mẹ cháu gấp áo cũ của mình, bẻ hai tay ra sau như người ôm. Bảo bà, gấp thế này để nó nhớ đường về. Rồi mẹ cháu hôn cháu, đặt cháu xuống giường, đi xuống cống."
* * *
Sáng mười lăm, bác sĩ mở cửa phòng, thấy tôi ngủ, thở đều, trán mát. Người ta bảo là phép lạ, rồi người ta thôi bảo, vì người ta phát hiện mất một người.
Ba ngày sau, người kéo vó ở bến Đò Quan vớt được một người đàn bà mặc áo bệnh nhân sọc xanh trắng, ngực thêu P.0.
"Người cách ly trốn ra, chết dưới sông, cả phố ăn nước sông ấy. Lộ ra thì to chuyện. Thế là ghi tả, ngày mười lăm, đem đi luôn. Cái hũ tro, bà không biết tro ai. Còn ba tờ sổ thì bà biết ai xé. Cháu đừng hỏi."
"Còn sổ giặt là?"
"Bà ghi thu về một áo nhỏ cho tròn sổ. Bà ghi láo. Áo nhỏ cháu mặc về nhà, bà bế cháu ra cổng, đưa tận tay dì cháu. Áo lớn thì theo mẹ cháu xuống sông. Năm sau người ta xây bít phòng này lại. Từ tuần ấy, ngày nào cũng thừa một cái."
Bà Tư nhìn cái áo khô trên giường nhỏ.
"Hai mươi năm nay bà đốt. Bà nghĩ mẹ cháu đem về để bà đếm, cho bà nhớ cái tội đưa chìa. Bà đốt để mẹ cháu đừng về nữa. Bà không nghĩ đến chuyện khác."
Tôi hỏi chuyện khác là gì.
Bà Tư im rất lâu. Ngoài lỗ tường, mấy anh thợ cười nói ở hành lang, xa như ở một nơi khác.
"Hai áo phát ra. Nhận về có một. Áo của cháu, chưa trả. Sổ bà, chưa đóng được."
Bà ngẩng lên, nhìn thẳng vào tôi.
"Cái áo đêm qua mẹ cháu gấp, đặt lên bàn ấy. Có để ý không. Không phải áo mẹ cháu đâu. Nó vừa người cháu."