☾ Truyện Ma Có Thật
← Bàn tính trong kho thóc

Chương 3: Quán nước ngã ba

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Ở ngã ba chợ có một cái quán nước dựng bằng bốn cây tre và tấm bạt xanh. Bà chủ quán ngoài bảy mươi, người ta gọi là mệ Thoan. Mệ bán nước chè xanh nấu trong cái ấm nhôm đen sì, kẹo lạc, thuốc lào, mấy gói bánh quy cũ. Cán bộ xã ngồi đó mỗi sáng trước giờ làm, nên tôi cũng ngồi.

Tôi chờ đến một buổi trưa vắng, chợ đã tan, mới hỏi.

"Mệ ơi, cái kho thóc hợp tác cũ, ngày xưa ai giữ hè mệ?"

Mệ đang rót nước thì dừng lại. Chén chè trên tay mệ đầy tới miệng rồi tràn ra, chảy xuống mặt bàn gỗ, mệ mới nhận ra. Mệ lấy cái giẻ lau, lau rất lâu.

"Eng hỏi chi chuyện nớ?"

Tôi nói cháu ngồi làm việc trong đó, thấy cái bàn tính to, tò mò. Tôi không nói chuyện đêm. Tôi biết nói ra thì người ta cười, hoặc người ta im luôn.

Mệ nhìn tôi một lúc. Rồi mệ ngồi xuống cái ghế nhựa đối diện, kéo cái quạt nan lại gần, nói nhỏ như sợ mấy cây tre nghe được.

Năm 1978, mệ nói, lụt to. Nước sông dồn về, nước biển dâng lên, gặp nhau ngay giữa đồng Cồn Mây. Lúa mùa đang ngậm sữa thì ngập trắng. Nước rút ra để lại bùn với rác, lúa thối hết. Cả xã còn mỗi kho thóc nghĩa vụ hợp tác, thóc nộp nhà nước, chờ xe huyện về chở.

"Đói. Eng không biết đói răng mô. Ăn rau má, ăn củ chuối, ăn cả rễ cỏ gà. Trẻ con bụng ỏng ra như cái mõ."

Thủ kho hồi đó là một chị đàn bà tên Nhàn, Phạm Thị Nhàn, người xóm Bãi. Ba mươi mấy tuổi, chữ đẹp, tính toán nhanh, cả hợp tác không ai gẩy bàn tính bằng ả. Cái bàn tính to trong kho là của hợp tác, nhưng chỉ ả dùng.

"Rồi cuối năm huyện về kiểm kê. Thiếu thóc."

"Thiếu bao nhiêu hả mệ?"

"Bốn tấn mấy tạ chi đó. Tau nỏ nhớ. Người ta nói ả lấy. Ả nỏ giải trình được."

Mệ ngừng. Mệ nhìn ra phía đường cái, nơi mấy con bò đang kéo xe cát qua.

"Ả treo cổ trong kho. Đêm trước hôm công an huyện về bắt."

Mệ nói câu ấy rất nhanh, như ném một hòn đá ra khỏi tay. Rồi mệ cầm chén chè uống một hơi, dù chè đã nguội.

Tôi ngồi im. Tôi nghĩ đến bốn hàng hạt trên tường. Bốn nghìn một trăm bảy mươi. Bốn tấn một tạ bảy mươi cân. Tôi không nói ra.

"Ả có chồng con không mệ?"

Mệ Thoan ngẩng lên. Mắt mệ nhìn tôi rồi nhìn qua vai tôi, về phía dãy mái ngói đỏ đầu xóm.

"Con thì chưa có. Còn chồng ả, chồng ả thì cũng như chết theo ả rồi. Chết mà còn đi đứng."

Tôi hiểu câu ấy theo cách người ta hay nói về người góa vợ bỏ đi biệt xứ. Tôi không hỏi thêm.

Lúc tôi đứng dậy trả tiền, mệ giữ tay tôi lại. Bàn tay mệ khô, nhẹ, gân nổi như rễ cây phi lao.

"Năm nớ nhà tau năm đứa con. Năm đứa sống được hết."

Tôi chờ mệ nói tiếp. Mệ buông tay tôi ra, quay vào cái ấm nhôm, nói như nói với cái ấm.

"Thôi. Chuyện cũ rồi. Eng đừng moi."

Ông già ngồi hút thuốc lào ở góc quán từ lúc nào, tôi không để ý. Ông đặt cái điếu bát xuống, nhổ một bãi nước bọt ra đường, đứng dậy đi, không trả tiền. Mệ Thoan cũng không đòi.

Đêm ấy tôi không căng chỉ, không chèn ghế. Tôi nằm nghiêng, mặt quay về phía bức tường có bàn tính, đèn pin để dưới gối, và chờ.

Tôi chờ không lâu. Mùi thóc phơi bốc lên từ nền gạch, ấm và ngai ngái. Có một hơi gió nhẹ đi ngang qua mặt tôi, mà cửa sổ đóng, cửa chính đóng.

Lách cách. Lách cách.

Lần này tôi nghe bằng cái tai của người học kế toán. Tôi nghe ra nhịp. Mỗi loạt ngắn là một con số, hai ba chữ số, chừng chục cân, hai chục cân. Gẩy, dừng nửa hơi, gẩy. Một danh sách dài những con số nhỏ được cộng dồn từng dòng. Như người ta cộng sổ chia phần cho từng nhà.

Tôi đếm trong đầu. Năm mươi loạt. Một trăm loạt. Đến khoảng hai trăm thì tiếng gẩy dừng lại lâu hơn. Rất lâu.

Rồi tôi nghe một tiếng gạt. Rào một cái, tất cả các hạt rơi xuống cùng lúc.

Và tiếng gẩy bắt đầu lại từ đầu. Loạt thứ nhất, loạt thứ hai. Cùng một nhịp với lần trước. Như người cộng xong một cột số mà không khớp, đành xoá hết, cộng lại.

Tôi nằm nghe hết lượt thứ hai. Lại dừng lâu. Lại gạt.

Lần này, trước khi tiếng gẩy bắt đầu lượt thứ ba, tôi nghe một tiếng thở ra. Dài, khẽ, rất gần, như từ chỗ cái bàn cách giường tôi ba bước. Tiếng thở của một người đàn bà mệt, cộng mãi một cột số mà nó không chịu khớp.

Vỏ trấu rơi xuống mặt tôi, ấm như hơi thở ấy.