Chương 4: Gác xép trong kho
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Tôi xin ông Tạo xem sổ sách hợp tác xã cũ. Tôi nói phải đối chiếu diện tích ruộng hợp tác giao lại cho xã hồi giải thể, cho khớp với sổ địa chính. Lý do ấy có thật, chỉ không phải lý do chính.
Ông Tạo nhìn tôi qua cặp kính lão, cái nhìn của người đã nghe nhiều lý do.
"Trên gác xép kho nớ. Bỏ đó từ hồi giải thể. Chuột hắn ăn gần hết rồi. Eng lục làm chi cho bụi."
"Dạ cháu đối chiếu cho khớp ạ."
Chữ khớp làm ông im một lúc. Rồi ông gật, phẩy tay.
Gác xép ở phía trên phòng tôi, sàn ván kê trên mấy cây xà ngang, lên bằng một cái thang tre dựng sát vách. Ông Lự đứng dưới giữ thang. Lúc tôi trèo lên đến bậc cuối, ông nói vọng lên:
"Lấy sổ ruộng thì lấy sổ ruộng. Đừng lục cái khác."
Trên gác tối, nóng, mùi bụi và cứt chuột khét lẹt. Tôi rọi đèn pin. Mấy cái hòm gỗ đóng đinh, mấy chồng bao tải mục, một cái quạt thóc gãy cánh, một chồng nón cời. Sổ sách để trong ba cái hòm, giấy ngả vàng như lá chuối khô, nhiều quyển bị chuột khoét thủng từ bìa vào giữa.
Sổ ruộng tôi tìm thấy nhanh. Tôi ném nó xuống cho ông Lự. Rồi tôi ngồi lại, mồ hôi chảy vào mắt, lục tiếp.
Quyển tôi cần nằm dưới đáy hòm thứ hai. Bìa các tông xanh, gáy khâu chỉ. Trên bìa, chữ viết tay bằng mực tím: Sổ nhập xuất kho thóc, Hợp tác xã nông nghiệp Cồn Mây, năm 1978.
Tôi kẹp nó vào nách, trèo xuống. Ông Lự đứng dưới chân thang nhìn quyển sổ trên tay tôi. Ông không nói gì. Ông cầm quyển sổ ruộng đi ra, bước chân nặng hơn lúc vào.
Tối đó tôi đọc dưới ngọn đèn bàn.
Chữ trong sổ đẹp lắm. Nét nghiêng, đều, chữ hoa có móc như chữ học trò ngày xưa tập viết. Từng dòng kẻ thước, ngày tháng, số phiếu, nhập bao nhiêu, xuất bao nhiêu, tồn bao nhiêu. Cột cuối có chữ ký nhỏ: Nhàn. Số bốn của người viết khép kín đầu. Số bảy không có gạch.
Tháng Tám, tháng Chín, thóc nghĩa vụ nhập về đều đặn, mỗi lần vài trăm cân. Đến giữa tháng Chín thì có một dòng viết bằng mực khác, đậm hơn: nước vào kho, chuyển thóc lên sàn cao. Rồi một dòng: nước rút.
Từ cuối tháng Mười, tôi bắt đầu thấy lạ.
Có những dòng bị cạo. Ai đó đã dùng dao lam cạo mực đi, cạo kỹ đến mức giấy mỏng như vỏ hành, soi lên đèn thấy ánh sáng xuyên qua. Trên chỗ cạo, có người viết đè con số khác. Nét chữ khác hẳn, nét đứng, vuông, ấn mạnh tay. Những con số viết đè ấy đều là số không, hoặc một gạch ngang, nghĩa là ngày đó không xuất kho gì cả.
Chỗ nào có số bảy viết đè, số bảy ấy có một gạch ngang cắt qua thân.
Tôi nhìn con số ấy lâu. Rồi tôi tự nói với mình, người già ở đây ai cũng viết số bảy như vậy. Thầy giáo cấp một của tôi cũng viết như vậy. Cả một thế hệ học chữ trong lớp bình dân đều viết như vậy.
Tôi lật đến trang cuối có chữ.
Ngày 14 tháng 12 năm 1978. Biên bản kiểm kê. Tồn kho theo sổ, tồn kho thực tế. Dòng cuối, viết bằng chữ vuông ấn mạnh tay: Thực tế thiếu so với sổ 4.170 kg. Thủ kho Phạm Thị Nhàn không giải trình được.
Bên dưới có ba chỗ ký. Đại diện huyện, một chữ ký dài. Thủ kho, chữ Nhàn, nét run, nghiêng hẳn sang một bên như người viết đang ngồi không vững. Kế toán hợp tác xã, chỗ ấy chuột đã gặm mất góc trang. Chỉ còn lại cái đuôi của một nét móc.
Tôi gấp sổ lại, đặt giữa bàn, chặn lên trên cái máy tính bỏ túi. Tôi tắt đèn, nằm xuống.
Đêm ấy không có tiếng gẩy. Tôi chờ đến khi gà gáy canh tư, chỉ có sóng và gió. Mùi thóc có lên một lúc, rồi tan. Tôi nghĩ có lẽ vì quyển sổ đã ra khỏi gác, có lẽ chừng ấy là đủ. Tôi thở ra, ngủ thiếp đi.
Sáng hôm sau, cái máy tính bỏ túi nằm dưới đất, cạnh chân bàn.
Quyển sổ mở ra giữa bàn. Nó mở ở trang ngày 27 tháng Mười, đúng chỗ có một dòng bị cạo sâu nhất. Trên khoảng giấy mỏng như vỏ hành ấy, có ai đã xếp năm hạt thóc thành một hàng thẳng, cách đều nhau, như năm dấu chấm.
Tôi ngước lên tường. Bốn, một, bảy, không.
Tôi chạy ra cửa. Ông Lự đang quét sân. Ông không nhìn tôi. Ông chỉ nói, chổi vẫn đưa đều tay:
"Eng lấy cái ni xuống rồi, chừ ả không để eng yên mô."