Chương 5: Đêm mưa trong chòi
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Giữa tháng Mười thì mưa. Mưa bãi ngang không như mưa trên quê tôi. Nó quất ngang theo gió từ biển vào, mặn chát, có hôm cả ngày không ngớt, cát trong sân phơi chảy thành từng rãnh nhỏ. Mái kho dột ba chỗ. Tôi lấy chậu nhôm hứng, đêm nằm nghe nước giọt xuống chậu, lẫn với sóng.
Một tối mưa, ông Lự gọi tôi sang chòi ăn cơm. Ông nấu nồi cháo cá nục, rót rượu ra hai cái chén hạt mít. Rượu trắng ngâm hạt tiêu, cay xé cổ.
Ăn xong, ông hỏi tôi tiền điện tháng này chia ra sao, vì công tơ của chòi ông và của kho chung một cái. Tôi chưa kịp lấy máy tính, ông đã cúi xuống gầm giường lôi ra một cái bàn tính nhỏ bằng quyển vở, khung gỗ đã sứt. Ông đặt nó lên đùi.
Ngón tay ông chạy trên các hạt nhanh như nước chảy qua kẽ đá. Tôi không kịp nhìn ông gẩy hàng nào. Mấy giây sau ông nói ra con số, chính xác đến từng đồng. Tôi bấm máy kiểm lại, đúng.
"Ông gẩy giỏi rứa, hồi trước ông có làm bên hợp tác không ông?"
"Hồi trước ai mà chẳng biết gẩy."
Ông cất cái bàn tính vào gầm giường, cạnh đôi dép nhựa nhỏ. Ông xếp nó ngay ngắn, như xếp đồ cho một người khác.
Rượu ngấm thì ông nói nhiều hơn. Mưa trên mái lá rào rào, phải ngồi gần mới nghe rõ.
Tôi kể với ông về quyển sổ năm 1978, về những dòng bị cạo. Tôi nói cháu nghĩ thóc không mất. Cháu nghĩ thóc đã được xuất đi, rồi có người cạo những dòng xuất ấy, viết đè số không lên.
Ông Lự đặt chén rượu xuống. Ông nhìn tôi, rồi nhìn ra cửa chòi, nơi đầu hồi kho mờ mờ trong mưa.
"Eng biết chi mà nói."
"Dạ, cháu chỉ đọc sổ."
"Sổ." Ông cười một tiếng khan, không có hơi. "Sổ thì ai mà chẳng viết được. Người ta viết răng thì nó ra rứa."
Ông rót thêm rượu, uống cạn, rót tiếp.
"Năm nớ xóm Bãi có ba đứa nhỏ chết đói. Ba đứa, trước tháng Mười. Chôn ngoài bãi cát, mả không cao bằng cái thúng."
Tôi chờ.
"Sau tháng Mười thì không đứa mô chết nữa."
Ông nói câu ấy rồi im rất lâu. Tôi ngồi nghe mưa, nghe nước giọt trong chậu nhôm từ bên kho vọng sang. Tôi nghĩ đến những dòng bị cạo bắt đầu từ cuối tháng Mười.
"Rứa thì thóc đi mô hả ông?"
Ông Lự không trả lời câu ấy. Ông nói, giọng đã nhão vì rượu, mắt nhìn xuống lòng chén:
"Mụ nhà tui nỏ lấy một hột mô."
Rồi ông ngẩng phắt lên, như người vừa dẫm phải hòn than. Ông nói lại, chậm từng chữ:
"Mụ thủ kho. Mụ nớ nỏ lấy một hột mô cho riêng mụ."
Mưa trên mái lá to quá. Tôi nghĩ mình nghe nhầm chữ đầu. Ở vùng này người già gọi đàn bà nào cũng là mụ, mụ nhà bên, mụ đầu xóm. Tôi nghĩ ông say. Tôi không hỏi lại.
Bây giờ nghĩ lại, tôi không hỏi lại vì tôi không muốn nghe câu trả lời.
Ông bảo tôi ngủ lại chòi. Tôi nói cháu về kho, mai còn sớm. Ông không giữ.
Tôi trùm áo mưa chạy qua sân. Từ chòi sang cửa kho chừng hai chục bước. Sân tối, cát lún dưới dép, nước mưa quất vào mặt. Tôi cúi đầu chạy, đến gần cửa mới ngẩng lên.
Cửa sổ phòng tôi, cái cửa sổ cao có chấn song, đang sáng.
Không phải ánh đèn điện. Ánh vàng đục, lay lắt, thấp, như ngọn đèn dầu vặn nhỏ đặt trên mặt bàn. Tôi đứng sững dưới mưa. Tôi nhớ rõ tôi đã tắt đèn bàn và khoá cửa trước khi sang chòi.
Mùi thóc phơi tràn ra từ khe cửa, ấm, khô, lạ lùng giữa trời mưa. Nước mưa rơi trên vai tôi lạnh buốt, mà hơi thóc phả vào mặt tôi nóng như đứng trước cửa lò.
Tôi bước tới, ghé mắt vào khe cửa chính.
Cửa không khoá. Cánh cửa tôi đã khoá, bây giờ hé ra chừng một bàn tay.
Qua khe hở ấy, tôi thấy góc phòng mình. Thấy cái bàn. Thấy ngọn đèn dầu không biết từ đâu ra, vặn nhỏ hết cỡ. Và thấy một cái lưng người.
Một người đàn bà ngồi ở bàn tôi, quay lưng ra cửa. Áo nâu, tóc vấn khăn, vai gầy. Hai cánh tay đưa lên ngang mặt, hướng về bức tường.
Lách cách. Lách cách cách.
Tôi đứng đó không biết bao lâu. Nước mưa chảy từ tóc vào cổ áo, xuống tận thắt lưng. Tôi không đẩy cửa. Tôi không chạy. Tôi chỉ đứng, như một người đến muộn đứng ngoài cửa một buổi họp đã bắt đầu.
Người đàn bà dừng tay. Cái đầu vấn khăn hơi nghiêng đi, như người đang nghe một tiếng động sau lưng.
Rồi ngọn đèn dầu tắt.