Chương 7: Đêm dưới viên gạch
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Viên gạch dưới gót chân phải của tôi khác những viên xung quanh. Tôi phải nằm áp má xuống nền mới thấy. Đường vữa quanh nó không phải vữa vôi trắng ngà như chỗ khác, mà là một thứ vữa xám, trát vội, đã mủn ra như bánh đa nhúng nước. Và nó ấm. Cả nền đã nguội từ lúc trời sáng, chỉ riêng viên gạch ấy còn ấm như có một cục than vùi bên dưới.
Ban ngày tôi không dám động vào. Ông Tạo dặn ông Lự để mắt tới tôi, tôi biết vì sáng ấy ông Lự vào phòng ba lần, lần nào cũng đứng nhìn cái bàn tính gãy thanh rất lâu rồi đi ra không nói gì.
Tôi chờ đêm.
Gần mười giờ tôi tắt đèn, ngồi chờ thêm một lúc cho chòi bên kia im hẳn. Rồi tôi bật đèn pin, kẹp vào miệng, quỳ xuống, lấy con dao rựa mượn của nhà bếp cạy quanh viên gạch.
Vữa bở ra dễ dàng. Viên gạch nhấc lên, bên dưới là một cái hốc nhỏ đào vào lớp cát nền. Trong hốc có một ống nứa dài chừng gang tay rưỡi, hai đầu bịt sáp ong, sáp đã ngả màu mật.
Tôi cầm ống nứa lên. Nó ấm trong tay tôi như một vật sống.
Tôi lấy mũi dao khều lớp sáp. Bên trong là một cuộn giấy, quấn chặt, bọc ngoài bằng một mảnh giấy dầu. Tôi gỡ ra, trải lên nền gạch, chặn bốn góc bằng bốn hạt bàn tính tôi gỡ từ thanh tre gãy.
Đó là những tờ giấy kẻ dòng, khổ y như khổ quyển sổ trong tủ sắt. Mép bên trái còn lỗ kim và mấy sợi chỉ khâu gáy bị cắt.
Trên đầu tờ thứ nhất, chữ nghiêng đều đặn mà tôi đã đọc suốt mấy đêm qua: Danh sách chia thóc cứu đói. Hợp tác xã Cồn Mây. Đợt một, ngày 27 tháng 10 năm 1978.
Rồi từng dòng. Số thứ tự. Tên chủ hộ. Số khẩu. Số cân. Cột cuối cùng là chữ ký người nhận, hoặc một dấu điểm chỉ mực tím cho người không biết chữ.
Tôi đọc dòng thứ nhất. Nguyễn Văn Bé, xóm Bãi, sáu khẩu, mười tám cân.
Tôi chưa kịp đọc dòng thứ hai thì mùi thóc ập tới.
Không phải bốc lên nhẹ như mọi đêm. Nó ập tới như người ta vừa mở cửa một cái lò sấy. Hơi nóng phả vào mặt tôi, khô rát, làm mắt tôi cay xè. Trấu từ trên mái rơi xuống không còn lả tả nữa, mà ào ào như mưa, rơi đầy tóc, đầy vai, đầy trên những tờ danh sách.
Bức vách ván ngăn phòng tôi với hội trường kêu lên một tiếng. Cánh cửa nhỏ trên vách tự mở ra.
Tôi nhìn qua cánh cửa ấy.
Hội trường không còn ghế băng. Không còn cái bục gỗ, tấm phông đỏ, ngôi sao giấy kim tuyến. Dọc hai bên tường là những cái bồ cót cao quá đầu người, đầy thóc. Thóc tràn ra nền thành từng đống vàng rực dưới một ngọn đèn bão treo trên xà. Cửa chính mở toang ra khoảng sân tối.
Và có người xếp hàng.
Họ đứng thành một hàng dài từ cửa kho ra tận sân, khuất vào bóng tối. Đàn ông, đàn bà, người già chống gậy, trẻ con. Ai cũng gầy. Ai cũng cầm thúng, cầm rổ, cầm bao tải gấp đôi. Không ai nói một câu nào. Tôi không nghe thấy tiếng bước chân, tiếng ho, tiếng trẻ con khóc. Chỉ nghe tiếng thóc chảy, rào rào, từ cái đấu gỗ đổ vào thúng.
Ở đầu hàng, sát cửa, có một cái bàn con. Người đàn bà áo nâu ngồi đó. Khăn vấn tóc. Một tay giữ quyển sổ, một tay cầm bút. Trên bàn, bên cạnh quyển sổ, là cái bàn tính to của hợp tác, đặt nằm.
Mỗi người đến trước bàn, chị cúi xuống sổ, gẩy mấy hạt bàn tính, rồi gật đầu. Một người đàn ông xúc thóc bằng đấu, đổ vào thúng. Người nhận ấn ngón tay vào sổ, rồi ôm thúng đi ra, không ngoái lại.
Tôi thấy một người đàn bà dắt năm đứa trẻ, đứa lớn nhất chừng mười tuổi, đứa nhỏ nhất còn địu trên lưng. Chị ấy nhận thóc, cúi rạp người trước cái bàn con, lâu lắm mới đứng dậy.
Tôi không biết hàng người ấy dài bao lâu. Tôi ngồi trên nền gạch, tờ danh sách dưới tay, nhìn họ đi qua từng người một.
Đến cuối hàng, chỉ còn một người. Một người đàn ông trẻ, gầy, mặc áo bộ đội. Anh ta không cầm thúng. Anh ta đứng trước cái bàn con, tay không, nhìn người đàn bà áo nâu.
Chị ấy ngẩng lên nhìn anh ta. Rồi chị lắc đầu. Chỉ một lần.
Người đàn ông trẻ quay đi. Anh ta không đi ra cửa. Anh ta đi vào trong, khuất sau một cái bồ thóc, và tôi không thấy anh ta nữa.
Ngọn đèn bão trên xà chao đi.
Người đàn bà áo nâu đứng dậy. Chị quay về phía tôi, phía cánh cửa nhỏ trên vách ván. Tôi thấy dáng chị, thấy cái khăn quấn kín cổ, cao đến tận cằm. Tôi không thấy rõ mặt. Chỉ thấy đôi mắt, đen và mệt, nhìn xuống những tờ giấy trên nền gạch trước mặt tôi.
Chị nói. Giọng nhỏ, khàn, giọng xóm Bãi.
"Sổ chưa khớp."
Ngọn đèn tắt. Tôi ngồi trong bóng tối, trên nền gạch đã nguội hẳn. Những tờ danh sách dưới tay tôi lạnh như giấy để ngoài sương.