Chương 8: Biên bản họp xã viên
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Sáng hôm sau tôi đem những tờ danh sách ra bậc thềm kho, đọc dưới nắng. Tôi không dám đọc trong phòng nữa.
Hai trăm mười hai dòng, chia làm ba đợt. Cùng một nét chữ nghiêng, đều, số bốn khép đầu, số bảy không gạch. Hộ ít nhất được sáu cân. Hộ đông khẩu được ba chục.
Cuối mỗi đợt có một dòng cộng, gạch chân hai lần. Một nghìn ba trăm sáu mươi. Một nghìn năm trăm hai mươi. Một nghìn hai trăm chín mươi.
Tôi dò từng tên. Nhiều cái họ, cái tên tôi đã gặp trong sổ thuế nhà đất của xã, những ông bà bây giờ đã bảy tám chục tuổi, hoặc đã thành tên con cháu đứng chủ hộ. Ở đợt một, dòng thứ mười chín: Lê Thị Thoan, xóm Chợ, bảy khẩu, hai mươi mốt cân. Cột ký nhận là một dấu điểm chỉ, mực tím đã nhạt thành màu hoa sim.
Ở dòng thứ hai của đợt một có một cái tên khác: Phan Văn Khoát, chủ nhiệm, bốn khẩu, mười hai cân. Bên cạnh, cùng nét chữ của người thủ kho, có ghi thêm một dòng nhỏ: xuất theo lệnh miệng của chủ nhiệm, có mặt kế toán.
Danh sách không có cuối. Tờ cuối cùng của đợt ba chỉ có dòng cộng, rồi một dòng chữ ngắn tôi đọc mãi không ra, vì mép giấy chỗ ấy đã bị ẩm, mực loang thành một vệt tím.
Biên bản thì tôi tìm thấy ở hòm thứ ba trên gác, nằm kẹp trong một tập công văn về phân bón. Một tờ giấy pơ luya đánh máy, chữ máy chữ nhảy hàng, mực ruy băng đã phai.
Biên bản hội nghị xã viên bất thường. Ngày 16 tháng 12 năm 1978. Chủ trì: đồng chí Phan Văn Khoát, chủ nhiệm hợp tác xã.
Tôi đọc nó ba lần. Câu chữ của biên bản thì khô và tròn như mọi biên bản. Số thóc hao hụt bốn nghìn một trăm bảy mươi cân. Để giữ uy tín của hợp tác xã, tránh việc truy cứu tập thể ảnh hưởng đến sản xuất, hội nghị thống nhất: thủ kho chịu trách nhiệm cá nhân về số hao hụt. Giao kế toán điều chỉnh sổ sách cho khớp với kết luận hội nghị. Đề nghị cấp trên xem xét giảm nhẹ cho đương sự do hoàn cảnh thiên tai.
Biểu quyết: nhất trí một trăm phần trăm.
Bên dưới là chữ ký chủ nhiệm, một chữ Khoát to, nét ngang dài. Không có chữ ký thư ký. Không có danh sách người dự. Chỉ có câu một trăm phần trăm ấy, đánh máy, đều tăm tắp.
Cả xã đã ngồi trong cái hội trường này, ngay bên kia bức vách ván, giơ tay. Những người đã ấn ngón tay vào danh sách của chị hai tháng trước, giờ giơ chính bàn tay ấy lên.
Tôi ngồi trên gác xép rất lâu, trong cái nóng hầm hập và mùi cứt chuột. Tôi nghe bên dưới ông Lự quét hội trường. Tiếng chổi sột soạt, đều đều, từ đầu này sang đầu kia, rồi ngược lại.
Chiều ấy tôi đem danh sách ra quán mệ Thoan. Tôi đợi khách về hết mới đặt tờ giấy đợt một lên mặt bàn gỗ, chỉ vào dòng thứ mười chín.
Mệ nhìn dấu điểm chỉ của mình. Mệ không cầm tờ giấy lên. Mệ chỉ cúi xuống, gần thật gần, như người mắt kém đọc chữ nhỏ, rồi đặt đầu ngón tay trỏ lên cái dấu tím đã nhạt, đúng vào chỗ ấy, như ướm thử.
"Ngón ni. Đúng ngón ni."
Mệ ngồi như vậy một lúc. Rồi mệ kể, giọng đều, không khóc.
Đêm hai mươi bảy tháng Mười năm ấy, chủ nhiệm Khoát cho người đi từng nhà gọi, dặn mang thúng, đi lối sau, không được đốt đuốc. Ba đứa nhỏ xóm Bãi mới chôn tuần trước. Ông Khoát nói thóc nhà nước thì để nhà nước đòi, chứ người chết thì nhà nước không đòi lại được.
"Ả Nhàn ngồi ở cửa kho, cân từng đấu, ghi từng nhà. Ả bắt ai cũng phải ký, phải ấn tay. Người ta nói ả cẩn thận chi mà cẩn thận rứa. Ả nói, mai mốt có ai hỏi thì tui có cái mà đưa ra."
"Rồi đến lúc huyện về hỏi thì sao mệ?"
Mệ Thoan nhìn tôi.
"Thì cả xã ngồi trong kho nớ. Ông Khoát đứng trên bục nói, chừ mà khai ra thì đi tù cả lũ, ai ăn thóc thì người nấy có tội, nhà mô cũng có người đi. Chỉ ả nhận một mình thì người ta xét cho, vài năm cải tạo là về. Ông hỏi ai đồng ý thì giơ tay."
Mệ giơ bàn tay khô như rễ phi lao lên, ngang vai, rồi hạ xuống.
"Tau giơ. Năm đứa con tau đang ngồi nhà chờ. Tau giơ."
Tôi hỏi mệ, ông Khoát chừ ở mô.
"Chết từ năm tám tư. Con trai ổng chừ làm chủ tịch xã đó. Thằng Tạo."
Tôi không ngạc nhiên. Tôi chỉ nghĩ đến bàn tay to bè đặt lên vai tôi hôm nào, và câu sổ sách là để cho khớp.
Tôi hỏi câu cuối. Tôi hỏi ai là kế toán hợp tác năm đó, người có mặt khi xuất thóc, người được giao điều chỉnh sổ.
Mệ Thoan rót một chén chè, đẩy sang tôi. Mệ không trả lời ngay. Mệ nhìn qua vai tôi, như hôm đầu tiên, về phía dãy mái ngói đỏ đầu xóm. Về phía cái chòi lá dừa nằm sát đầu hồi kho.
"Eng hỏi tau làm chi. Eng ở sát vách người ta cả tháng rồi."
Mệ dừng một lúc.
"Eng có biết ông Lự là ai không?"