☾ Truyện Ma Có Thật
← Bàn tính trong kho thóc

Chương 9: Chữ số bảy

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Tôi về đến kho lúc trời nhá nhem. Tôi không vào ngay. Tôi đứng trước tấm bảng gỗ quét sơn đen cạnh cửa, nơi ông Lự ghi lịch trực bằng phấn.

Tôi mở quyển sổ năm 1978 ra, áp trang kiểm kê lên sát tấm bảng. Dòng chữ vuông ấn mạnh tay: thực tế thiếu so với sổ 4.170 kg. Bên cạnh, trên nền sơn đen: thứ Bảy, trực đêm, Lự.

Hai số bảy giống nhau như in. Cùng một gạch ngang cắt qua thân, cùng hơi lệch về bên phải, cùng cái đuôi nhấn mạnh ở cuối nét. Hai mươi lăm năm, một cái bằng mực, một cái bằng phấn, mà tay người viết không đổi.

Tôi gấp sổ lại. Tôi nhớ cái bàn tính nhỏ ông gẩy nhanh như nước chảy. Nhớ đôi dép nhựa cỡ chân đàn bà dưới gầm giường. Nhớ cái khoảng vách sạch hình chữ nhật trên bàn thờ không ảnh. Nhớ câu mụ nhà tui trong đêm mưa, mà tôi đã cố tình nghe nhầm.

Ông Lự không ở chòi. Ông ở trong kho. Ông ngồi trên cái ghế của tôi, trước bàn của tôi, quay mặt vào bức tường có bàn tính. Đèn không bật. Chỉ có ánh chiều tàn lọt qua chấn song, xám như tro.

Tôi đặt quyển sổ, tờ biên bản và những tờ danh sách lên bàn trước mặt ông. Ông nhìn chúng, không đưa tay chạm vào.

"Mệ Thoan nói với eng rồi à."

"Dạ. Mệ chỉ hỏi cháu có biết ông là ai không."

Ông gật đầu chậm, như người ta gật khi nghe một con số đúng như mình đã tính.

"Tau là kế toán hợp tác. Hoàng Văn Lự. Chồng ả Nhàn."

Ông kể, giọng khàn mà đều, không dừng lại để lấy hơi.

Ông với chị cưới năm bảy hai, lúc ông về phép. Năm bảy lăm ông xuất ngũ, hợp tác cho làm kế toán vì ông học hết cấp hai, gẩy bàn tính giỏi. Chị làm thủ kho. Hai vợ chồng chung một cái kho, chung một quyển sổ. Chị giữ thóc, ông giữ số.

Đêm hai mươi bảy tháng Mười, chính ông đứng cạnh chị ở cửa kho, xúc thóc từng đấu cho chị ghi. Đến cuối hàng, ông cũng đứng xếp hàng, vì nhà ông cũng đã ăn rau má nửa tháng. Chị lắc đầu.

"Ả nói, nhà thủ kho mà lấy một hột thì mai mốt ai cũng nói được là thủ kho ăn. Nhà tui không lấy."

Ông rút trong túi áo ra một tờ giấy gấp tư, mép ẩm loang tím, đặt cạnh những tờ danh sách. Tôi nhận ra nó. Đó là cái dòng cuối tôi đọc mãi không ra, ông đã chép lại từ lâu, nét chữ vuông ấn mạnh tay.

Hộ thủ kho Phạm Thị Nhàn: không lấy.

Rồi huyện về kiểm kê. Rồi cái đêm họp xã viên trong hội trường bên kia vách. Ông Khoát đứng trên bục. Ông Lự ngồi hàng ghế đầu, vì là kế toán.

"Tau giơ tay. Tau giơ trước cả mệ Thoan. Ông Khoát hứa cải tạo ba năm là cùng, có xã bảo lãnh. Tau tin. Tau muốn tin."

Hôm sau, chính ông ngồi trong căn phòng này, dưới cái bàn tính này, cạo từng dòng xuất bằng dao lam, viết đè số không lên. Ông cắt những tờ danh sách ra khỏi gáy sổ, định đem nộp ông Khoát đốt. Chị giật lại.

"Ả nói, eng cạo được sổ chứ eng không cạo được cái bụng người ta đã ăn."

Đêm trước hôm công an huyện về, ông Khoát sang nhà đòi danh sách. Chị nói chị cất rồi, không ai tìm được. Ông Khoát bảo ông Lự khuyên vợ. Ông Lự khuyên. Ông nói nhận đi, vài năm thôi, tui chờ.

"Ả hỏi tau một câu. Eng cũng giơ tay à. Tau nói có."

Ông Lự nhìn lên bàn tính.

"Ả không nói chi nữa. Ả cầm đèn dầu ra kho, nói soát lại sổ lần cuối cho khớp. Tau thấy đèn sáng trong kho tới khuya. Tau ngủ quên."

Ông không kể sáng hôm sau. Tôi không hỏi.

Ông lấy từ trong túi áo bộ đội ra một tấm ảnh nhỏ, đen trắng, mép cong. Một người đàn bà trẻ áo nâu, khăn vấn, đứng cạnh một anh bộ đội gầy. Chị không cười, nhưng mắt chị sáng.

"Tau treo ảnh ả trên bàn thờ được mấy tháng. Rồi tau nghe tiếng bàn tính. Đêm mô cũng nghe. Tau gỡ ảnh xuống, vì tau không chịu được ả nhìn."

Đôi dép nhựa là ông mua ở chợ huyện tuần trước khi lụt, để dành cho chị đi Tết. Chị chưa đi lần nào. Hai mươi lăm năm, ông lau nó mỗi rằm.

Hai mươi lăm năm, ông xin làm bảo vệ cái kho, ngủ ở cái chòi sát đầu hồi, đêm nào cũng ngồi quay mặt về phía kho. Sáng nào cũng vào gạt cái bàn tính về không.

"Tau gạt đi cho ả khỏi phải tính. Ả cứ tính lại. Tau không biết ả để danh sách ở mô. Tau mà biết thì..."

Ông không nói hết câu. Tôi cũng không biết ông định nói thì ông đã đem nộp, hay thì ông đã đem ra.

Trời tối hẳn. Hai ông cháu ngồi trong bóng tối, không ai bật đèn.

Mùi thóc lên. Nhẹ thôi, ấm, như mùi một sân phơi lúc chiều. Nền gạch dưới chân tôi ấm dần.

Rồi cái bàn tính trên tường gẩy.

Tôi nhìn sang ông Lự. Hai bàn tay ông đặt trên đầu gối, ngửa ra, run run. Không chạm vào đâu cả.

Lần này tiếng gẩy không nhanh. Từng hạt một, chậm, rõ, như người ta đọc cho ai đó chép. Ở hàng trăm, hai hạt. Ở hàng chục, một hạt. Ở hàng đơn vị, hai hạt.

Hai trăm mười hai.

Ông Lự bật ra một tiếng, không phải khóc, như tiếng người bị ai gọi đúng tên sau rất lâu. Ông nói, giọng vỡ ra:

"Ả đòi đủ hai trăm mười hai nhà."