☾ Truyện Ma Có Thật
← Gánh hàng qua mốc

Chương 5: Cái sọt trong chuồng

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Sáng hôm sau, cây chuối thứ tư héo.

Tôi bắt đầu lục lại trí nhớ. Cái năm chuối ấy. Tôi gánh chuối cho Cậy từ năm chín ba đến năm chín chín, sáu năm. Hồi đó chuối tây Lạng Sơn bán sang bên kia được giá, Cậy thu mua cả vùng, thuê cửu vạn gánh qua lối mòn cho đỡ thuế. Mỗi đêm vài chục người, mỗi người hai sọt chuối, đòn gánh kĩu kịt, đèn pin dắt mũ.

Tôi bỏ gánh chuối năm chín chín. Tôi nhớ thế vì năm ấy con Khiêm lên năm. Còn vì sao bỏ thì tôi chỉ nhớ một điều: có một chuyến cuối, sau chuyến ấy tôi ốm mấy ngày liền, sốt, nôn. Khỏi ốm thì tôi không muốn nhìn thấy chuối nữa. Mai nấu chè chuối tôi cũng không ăn. Tôi cứ tưởng tại ốm mà sinh ghét.

Hai cái sọt gánh chuối hồi ấy tôi vẫn giữ. Sọt nan tre đan mắt cáo, to, sâu, đáy vuông, Cậy phát cho mỗi cửu vạn một đôi. Bỏ nghề chuối, tôi quẳng chúng lên gác chuồng trâu, đựng rơm. Mười năm chưa lấy xuống.

Tôi trèo lên gác chuồng. Hai cái sọt nằm úp, rơm mục, mạng nhện giăng kín. Tôi lôi xuống, đập rơm, đem ra sân rửa.

Cái sọt bên trái sạch trơn. Cái sọt bên phải, cái tôi vẫn móc vào đầu đòn có vết khía, khác. Đáy sọt có một vệt sẫm loang, đen như vết dầu, ngấm vào nan tre, rửa không trôi. Ở vành miệng sọt, chỗ nan bị toè, mắc một mẩu vải.

Mẩu vải chàm, to bằng hai ngón tay, mép rách. Mười năm mà vải không mục, chàm vẫn sẫm. Trên vải có một hàng thêu nhỏ bằng chỉ đỏ đã bạc, hình mấy quả trám nối nhau, đường thêu khít và đều, tay người thêu khéo lắm.

Tôi ngồi xổm giữa sân cầm mẩu vải rất lâu. Mai đi chợ về, đứng sau lưng tôi. Mai nhìn mẩu vải, rồi nhìn cái sọt.

"Áo chàm của con gái bên Cao Lộc mới thêu quả trám ở gấu thế này. Bên Bình Gia nhà em không thêu."

"Sao em biết?"

"Mẹ em lấy chồng sang từ Cao Lộc. Áo cưới của mẹ cũng thêu thế."

Mai cầm lấy mẩu vải, gói vào giấy bản, cất cùng sợi chỉ trong hộc bàn thờ. Mai không hỏi tôi gì thêm. Nhưng tối ấy Mai dọn cơm, đặt thêm một cái bát không ở đầu mâm, phía tay phải tôi. Tôi không hỏi.

Chiều ấy tôi ngồi ở hiên, cố nhớ lại chuyến chuối cuối cùng. Tôi chỉ nhớ được từng mảnh rời. Mùi rượu ngô cay xè trong cổ. Tiếng Cậy cười ở bãi sau kho. Một con suối, một vạt cỏ tranh, ánh trăng. Rồi một khoảng trắng, như cuộn phim bị cháy giữa chừng.

Tôi càng cố nhớ thì vai phải càng lạnh. Lạnh đến mức tôi phải lấy cái chăn bông quấn quanh vai giữa trời tháng Chín.

Đêm ấy tôi lại ra bìa rừng hồi. Lần này tôi mang đòn gánh với hai cái sọt chuối cũ. Tôi không biết vì sao. Tôi chỉ thấy cần mang.

Tôi đi lên dốc, qua suối, gần đến mốc đá thì dừng. Sương ít, trăng hạ tuần lên muộn, soi vạt cỏ tranh trắng bạc. Dế im.

Chị ở ngay cạnh mốc đá. Đứng tựa vào cột mốc, nghiêng người, như người mỏi chân đứng nghỉ. Thấy tôi, chị đứng thẳng lên, đi về phía tôi. Bốn bước. Ba bước.

Đến ba bước thì chị dừng. Chị đưa một tay ra. Bàn tay nhỏ, ngón dài, đầu ngón tay tím. Chị đặt tay lên đầu đòn bên phải, ngay vết khía.

Cái đòn trên vai tôi trĩu xuống như ai treo cả một tảng đá. Tôi khuỵu một gối. Tôi nghe vai mình kêu, cái tiếng khục trong xương. Lạnh từ đầu đòn chạy dọc theo gỗ, qua vai, xuống sống lưng.

Tôi gượng đứng dậy thì vấp. Cả người lẫn gánh ngã lăn xuống vạt cỏ. Cái sọt bên phải tuột quai, lăn mấy vòng về phía mốc đá, đến chân cột mốc thì dừng, nằm nghiêng, miệng sọt quay ra phía tôi.

Tôi nằm dưới cỏ, ngước nhìn. Chị đi đến bên cái sọt. Chị cúi xuống, rồi chị co người lại. Co hai đầu gối lên ngực, ôm lấy, cúi đầu, cuộn tròn trên cỏ ngay cạnh miệng sọt, như một đứa trẻ nằm ngủ trong một cái gì vừa khít với nó.

Tôi chợt hiểu, như có ai đặt sự thật ấy vào lòng bàn tay tôi. Cái dáng nằm ấy vừa khít với lòng một cái sọt chuối.

Ánh đèn pin của bộ đội biên phòng quét qua sườn đồi bên kia. Có tiếng chó sủa. Tôi bò dậy, nhặt đòn, nhặt cái sọt bên trái, rồi chạy. Tôi bỏ lại cái sọt bên phải ở chân mốc.

Tôi chạy đến bờ suối mới dám ngoái lại. Trên vạt cỏ trắng dưới trăng, không còn ai nằm. Nhưng cái sọt đã đứng thẳng dậy, miệng ngửa lên trời, như có người vừa ngồi vào.