☾ Truyện Ma Có Thật
← Gánh hàng qua mốc

Chương 6: Người trở về từ bên kia

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Tôi tự nhủ cả trăm cửu vạn gánh chuối cho Cậy, sọt nào cũng do Cậy phát, sọt nào cũng giống sọt nào. Mẩu vải mắc vào vành sọt có khi từ một chuyến ở chợ, ở bãi, ở đâu đó. Tôi tự nhủ thế mấy ngày liền. Vai phải tôi không nghe. Vết bầm đã lặn, nhưng cứ chạng vạng là vai lạnh, lạnh đúng một vệt dài bằng cái đòn đặt lên.

Người tìm ra chị Pú là Mai, không phải tôi.

Mai đi chợ Đồng Đăng bán măng khô, ngồi cạnh một người đàn bà Nùng bán rau cải. Người ta kể với Mai, người đàn bà ấy bị bán sang bên kia từ năm chín chín, bảy năm sau mới được trao trả về qua cửa khẩu. Về quê thì bố mẹ đã mất, nhà cửa không còn, ra chợ ngồi bán rau sống qua ngày. Mai mang mẩu vải chàm theo, đưa cho chị ấy xem.

Chiều ấy Mai dẫn chị Pú về nhà.

Chị Pú ngoài ba mươi mà trông như bốn mươi lăm. Người gầy, tóc cắt ngắn, tay chai, mắt nhìn ai cũng nhìn thẳng một lúc rồi mới cụp xuống. Chị ngồi ở mép chõng, không ăn miếng nào Mai mời, chỉ uống nước chè. Chị cầm mẩu vải trong lòng bàn tay, ngón cái miết đi miết lại hàng quả trám.

"Cái áo này em biết. Của con Mây."

Chị nói tiếng Kinh lơ lớ, câu ngắn, hay ngắt giữa chừng như người phải nghĩ từng chữ. Tôi không hỏi chị chuyện bị bán. Tôi chỉ hỏi về người mặc cái áo này.

"Em đi chợ Kỳ Lừa. Mua cái nồi. Uống bát nước của người quen. Tỉnh dậy thì ở bên kia rồi."

"Trong một cái lán. Có ba đứa con gái. Em, một đứa người Dao, với con Mây."

Chị dừng lại, uống ngụm chè.

"Con Mây người Tày. Cao Lộc. Mười bảy tuổi. Nó mặc áo chàm, gấu thêu quả trám, nó bảo mẹ nó thêu. Hai đứa em tỉnh. Nó không tỉnh hẳn."

"Không tỉnh hẳn là sao?"

"Nó mở mắt. Nhìn mà không thấy. Nó nôn. Người nó lạnh."

"Bọn nó bảo nó yếu, nằm trong sọt lâu quá, ngạt. Nó cứ nói một chữ, rườn, rườn. Nhà. Nói cả đêm."

Tôi nghe chữ ấy mà vai phải giật lên một cái. Mai nhìn tôi.

"Sáng hôm sau em nghe bên ngoài lán có người ngáy. Bọn nó cười. Bảo thằng cửu vạn Tày uống rượu ngô say quá, gánh xong lăn ra ngủ, không biết trời đất gì. Em nhìn qua khe vách. Chỉ thấy cái đòn gánh dựng ở cửa lán. Đen bóng."

Tôi hỏi, giọng tôi khô khốc:

"Chị có thấy mặt người ấy không?"

Chị Pú lắc đầu.

"Người ta đi lúc em ngủ. Cái đòn cũng đi."

Mai rót thêm chè. Chị Pú cầm chén lên mà không uống. Chị kể tiếp, giọng đều đều như kể chuyện nhà ai.

"Con Mây chết hôm thứ hai. Gần sáng. Em nằm cạnh nó. Lúc nó chết nó không kêu. Nó chỉ co người lại, như đứa trẻ, như lúc nằm trong sọt."

Bên ngoài, con chó nhà tôi tự dưng rên khe khẽ rồi chui vào gầm chõng.

"Bọn nó đem nó đi chôn. Em nghe bọn nó cãi nhau, đứa bảo chôn xa, đứa bảo trời sắp sáng, chôn gần. Bọn nó chôn ở gốc cây sau sau, bên kia suối. Chỗ ấy nhìn sang thấy cái mốc đá. Đất đỏ lắm. Chôn xong một đứa về, áo nó đỏ bết từ cổ xuống."

"Sao chị biết là gốc sau sau?"

"Mấy năm sau em bị bán lại. Đi qua đường ấy. Em thấy cây sau sau. Lá đỏ. Dưới gốc cái mô đất. Không ai đắp."

Chị Pú đặt chén xuống.

"Bọn nó lót lá chuối cho nó. Lá chuối lấy trong sọt ra. Em thấy. Trong sọt toàn lá chuối, với mấy nải chuối dập."

Chị đứng dậy ra về. Ra đến cổng, chị dừng lại nhìn hàng chuối sau nhà tôi. Năm cây héo, hai cây cuối còn xanh. Chị đứng nhìn rất lâu, rồi quay lại hỏi tôi một câu mà tôi không ngờ:

"Anh làm cửu vạn lâu chưa?"

"Hai mươi năm."

"Năm chín chín anh gánh cho ai?"

Tôi không trả lời được. Không phải vì tôi giấu. Mà vì câu trả lời đã nằm sẵn trên đầu lưỡi tôi, và tôi sợ nó.

Chị Pú không hỏi nữa. Chị nhìn xuống tay tôi. Tôi cũng nhìn theo. Không biết từ lúc nào, tôi đã nhổ nước bọt vào lòng bàn tay phải và đang xoa xoa nó vào ống quần, như mỗi lần sắp nhấc gánh.

Đêm ấy Mai không ngủ. Mai ngồi bên bếp, khều lửa, nói với tôi mà không nhìn tôi.

"Bố Khiêm. Năm chín chín, cái đêm anh về ốm, anh nằm mê hai ngày. Anh cứ nói mê một câu mà em không hiểu."

"Câu gì?"

"Anh bảo: chuối gì mà ấm thế."

Tôi ngồi lặng. Bên ngoài, gió thổi qua hàng chuối, tiếng lá héo khô xào xạc như có người đang đi dọc bờ rào, chậm rãi, từ cây đầu đến cây thứ sáu.