☾ Truyện Ma Có Thật
← Hai nét chữ trong sổ khám

Chương 3: Nét chữ nghiêng

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Việc đầu tiên tôi làm là đem cuốn sổ sang gian bếp, chìa ra trước mặt chị Xiêm. Chị đang thổi lửa nấu cháo. Chị lau tay vào vạt áo, cầm sổ, đọc năm dòng chữ nghiêng, rồi ngẩng lên nhìn tôi như nhìn một đứa trẻ đổ tội.

"Em nghĩ chị viết à?"

Tôi nói tôi không nghĩ thế. Nhưng mặt tôi chắc nói khác. Chị Xiêm lấy cuốn sổ giao ban trên bóc xuống, lật cho tôi xem chữ chị. Chữ tròn, mập, nét nào cũng cong như sợi miến, chữ người Thái học trường dân tộc nội trú. Không giống. Chị bảo chị chưa bao giờ cầm chìa khoá ngăn kéo bàn khám, và chị không rảnh mà đi trêu một thằng y sĩ bằng mấy chữ "tao", "mày".

Tôi xin lỗi chị. Chị hừ một tiếng, nhưng lúc múc cháo vẫn múc cho tôi bát đầy.

Ngồi một mình ở phòng khám, tôi soi lại năm dòng chữ. Nét chữ đều, mềm, nghiêng chừng hai mươi độ, chữ "h" có vòng khuyết, chữ "g" kéo đuôi dài. Kiểu chữ người học tiểu học trước những năm tám mươi, khi thầy còn bắt viết bút chấm mực, luyện nét thanh nét đậm. Bố tôi viết kiểu ấy. Thế hệ tôi thì không ai viết như vậy nữa.

Mực là mực bút bi xanh. Tôi rút cây bút trong túi áo ra, vạch một nét bên cạnh. Cùng một màu.

Cây bút ấy tôi dùng đã hai tháng, nắp bị tôi cắn méo, ruột còn non nửa. Tôi soi ruột bút lên ánh đèn. Tôi nhớ hôm qua mực còn chừng nửa ruột. Giờ hình như thấp hơn. Tôi không chắc. Ai đi để ý mực bút bi tụt bao nhiêu.

Chiều hôm ấy anh Sình về họp huyện, mang theo một xe củi người ta biếu trạm. Tôi bổ củi đến chạng vạng cho đỡ nghĩ. Tối, tôi làm một việc mà giờ nghĩ lại thấy buồn cười. Tôi cất sổ vào tủ thuốc có cửa kính, khoá lại, xâu chìa khoá vào một sợi dây dù, đeo lên cổ. Rồi tôi lấy băng dính dán ngang mép cửa tủ, ký tên lên băng dính.

Đêm đó tôi ngủ chập chờn. Có lúc tôi nghe như có tiếng nước nhỏ giọt từ mái tôn, đều đều. Rồi tôi thiếp đi.

Sáng ra, sợi dây dù vẫn ở trên cổ, chìa khoá vẫn ấm hơi người. Băng dính trên cửa tủ còn nguyên chữ ký của tôi. Tôi bóc băng, mở tủ, lấy sổ ra.

Lần này là cả một trang.

Chữ nghiêng kín từ trên xuống dưới, chạy đè lên cả mấy chữ in "triệu chứng", "chẩn đoán". Có đoạn viết như nói chuyện với ai, có đoạn như ghi nhật ký. Tôi chép lại ở đây vài câu tôi còn nhớ:

"Taluy cua Tay Áo đá phiến, ngấm nước là trôi như bột. Tao bảo từ hôm mười hai. Con Nhài sắp đẻ. Tao đặt tên rồi, trai thì là Hải, gái thì là Thương. Bu tao bảo tên Thương nghe buồn. Đội trưởng Tiến bảo mày lo việc mày đi. Thằng ở trạm này chữ xấu như gà bới."

Đọc đến câu cuối, tôi đặt cuốn sổ xuống bàn, đứng dậy đi ra sân. Gió trên đèo thổi xuống mát lạnh. Tôi đứng đó hít thở cho tim đập chậm lại.

Rồi tôi quay vào phòng, cúi xuống gầm giường.

Đôi giày ba ta lại đóng đất đỏ. Lần này đất đã se lại, khô quánh. Trong đất có mấy hạt cỏ may găm vào vải, ống quần dài tôi vắt trên thành giường ướt sương đến bắp chân. Tôi xoè bàn tay phải ra nhìn. Lòng bàn tay rát, mấy chỗ đỏ ửng sắp phồng. Tôi nghĩ đến đống củi bổ hôm qua. Tôi chưa quen cầm rìu lâu như thế.

Trưa đó tôi rủ chị Xiêm lên điểm trường bản Chí Lừ. Chị biết tiếng Mông khá hơn tôi nhiều, vì chị đỡ đẻ cho nửa xã. Tôi kể hết chuyện cuốn sổ. Chị nghe, im lặng, rồi đi lấy cái áo khoác.

Điểm trường là hai phòng học ghép, vách ván, mái tôn, sân đất có cột cờ tre. Cô giáo người Văn Chấn cho thằng Sử ra ngoài. Nó đứng nép sau cột cờ, không dám lại gần tôi. Chị Xiêm ngồi xổm xuống ngang tầm nó, hỏi han bằng tiếng Mông, giọng dịu hẳn đi, khác hẳn cái giọng chị nói với tôi.

Thằng bé trả lời lí nhí, mắt lại liếc lên chỗ sau vai tôi. Chị Xiêm hỏi thêm mấy câu nữa. Nó nói một câu dài, tay chỉ thẳng vào cái khoảng không ấy.

Chị Xiêm đứng lên. Mặt chị hơi tái.

"Nó bảo, cái chú tên Hùng không ở trong nó. Chú ấy ở với em. Đi theo em."

"Đi theo em là sao hả chị?"

"Tiếng Mông nó nói một chữ, chị không biết dịch sát. Đại ý là ở cùng, đi cùng. Nó bảo chú ấy nói chuyện suốt mà em không nghe thấy, nên chú ấy bảo nó nói lại cho em nghe."

Tôi đứng im giữa sân trường. Lũ trẻ trong lớp ghé mắt qua khe ván nhìn ra, cười khúc khích. Tôi không quay đầu lại phía sau. Tôi biết sau lưng tôi chỉ có cột cờ và quả đồi, nhưng tôi không quay đầu lại được.

Tôi bảo chị Xiêm hỏi nó, chú Hùng ấy giờ đang làm gì.

Chị Xiêm hỏi. Thằng Sử ngước lên. Lần này nó không trả lời bằng tiếng Mông. Môi nó mấp máy, rồi cái giọng quê tôi bật ra, chậm và rõ, như đọc một câu được nhắc từng chữ:

"Giày mày đi mỏng thế. Đá taluy nó cứa rách đế bây giờ."

Rồi thằng bé nhìn xuống chân tôi. Tôi cũng nhìn xuống. Sáng nay tôi đã cọ sạch giày. Đôi giày vẫn trắng. Nhưng ở mũi chiếc giày bên phải, chỗ vải tiếp giáp đế cao su, có một vết cứa mảnh, sắc, dài chừng một đốt ngón tay, mà tôi chưa hề thấy bao giờ.