☾ Truyện Ma Có Thật
← Hai nét chữ trong sổ khám

Chương 4: Đất đỏ cây số mười hai

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Chủ nhật, tôi mượn chị Xiêm cái xe Wave cũ, chở ông Lử lên đèo. Ông không muốn đi. Tôi phải hứa mua cho ông bao thuốc lá và hứa không bắt ông đến gần. Thằng Sử đứng ở cửa nhìn theo, tay nắm vạt áo mẹ.

Đường quốc lộ lên Khau Phạ hôm ấy đông xe khách du lịch, xe máy chở người dưới xuôi lên chụp ảnh lúa chín. Ruộng bậc thang ở hai bên vàng rực, trên mặt ruộng có người gặt cúi lom khom, những bó lúa dựng thành hàng. Lên cao hơn, ruộng thưa dần, chỉ còn sườn đồi cỏ tranh và những vạt rừng sau sau đã bắt đầu đỏ lá.

Ông Lử vỗ vai bảo tôi dừng ở một khúc cua rộng, có cái quán lá bán ngô nướng đã đóng cửa. Ông chỉ tay lên phía trên. Ở đó, cao hơn mặt đường bây giờ chừng hai chục mét, có một vệt đường cũ bị bỏ, cỏ mọc kín, uốn thành một vòng dài hẹp, móc ngược vào sườn núi rồi mới vòng ra. Nhìn từ dưới lên, nó giống hệt một ống tay áo người ta vắt lên vai.

"Đấy. Đường cũ đấy. Đất đổ xong, họ làm đường mới ở dưới này, bỏ cái kia."

Ông nhất định không lên. Ông ngồi xổm cạnh quán ngô, châm điếu thuốc, mắt nhìn đi chỗ khác. Tôi trèo lên một mình theo con dốc trâu bò đi.

Mặt đường cũ chỉ còn là một dải đất phẳng lổn nhổn đá, cỏ lau cao quá đầu gối. Bên trong là vách taluy cao, sạt một mảng lớn, lộ ra lớp đất đỏ sậm như gạch non, xen những vỉa đá phiến xám xanh. Đá vụn tróc xuống chân vách thành một bãi, mảnh nào cũng mỏng, sắc như vảy. Tôi nhặt một mảnh lên. Giống hệt mấy mảnh lắng dưới đáy chậu nước hôm trước.

Ở mép đường cũ, lấp trong cỏ, có một cái cọc bê tông thấp, đầu vuông. Người ta quét sơn đỏ lên đầu cọc, sơn đã bong gần hết, còn đọc được hai con số. Mười hai. Không phải cột cây số của quốc lộ. Cột ấy tôi đi qua hàng trăm lần, sơn trắng đỏ, ghi tên Mù Cang Chải. Đây là cọc mốc của đội thi công, tự đánh số theo cách của họ.

Tôi đứng đó rất lâu. Gió trên đèo luồn qua cỏ lau nghe như có người thở dài. Không có tiếng chim nào.

Rồi tôi thấy những vết đào.

Dưới chân vách taluy, trong bãi đá vụn, có mấy cái hố nông, to bằng cái nia. Đất bới lên còn tươi, chưa kịp se mặt. Mép hố có vết cào như người ta dùng que, dùng tay, hoặc một thứ gì đó cùn. Quanh hố, trên nền đất đỏ ẩm, có dấu giày. Đế cao su kẻ ô quả trám, mũi tròn. Giày ba ta.

Tôi đặt chân mình bên cạnh một dấu giày. Vừa khít. Tôi nhấc chân ra, nhìn hai dấu nằm cạnh nhau, giống nhau như in. Tôi tự bảo, nửa số thanh niên trong huyện đi giày ba ta, cỡ bốn mốt là cỡ phổ biến nhất. Mấy đứa trai bản đi tìm sâm, tìm măng, đào bới lung tung là chuyện thường.

Tôi xuống, kể cho ông Lử. Ông nghe đến mấy cái hố thì vứt điếu thuốc đang hút dở.

Trên đường về, ông ngồi sau xe, kể cho tôi nghe chuyện năm 1998, giọng đứt quãng trong gió. Năm ấy đội làm đường của người Kinh dưới xuôi lên mở rộng đoạn đèo này. Họ đóng lán ở khúc cua ấy, lán dựng bằng tre, lợp bạt, dựa lưng vào taluy cho kín gió. Ông và mấy người trong bản gánh đá thuê, được trả bằng tiền và gạo.

Tháng Tám năm ấy mưa liền mười mấy ngày. Đêm hôm ấy ông không ở lán, ông về bản. Sáng ra người ta chạy xuống báo đất đổ, vùi cái lán. Cả bản kéo lên đào cùng người Kinh. Đào ba ngày, được hai người, chết cả. Người thứ ba không thấy đâu.

"Cái người không thấy ấy tên là gì hả ông?"

Ông Lử im một lúc lâu.

"Hùng. Cái anh hay cho trẻ con trong bản lạc rang. Anh ấy biết viết chữ đẹp, hay ngồi viết thư dưới đèn bão."

Tôi suýt lái xe xuống rãnh.

Ông kể tiếp, người Kinh đào thêm một tuần rồi thôi. Có một người em trai anh Hùng ở dưới xuôi lên, đào thêm mấy hôm, rồi cũng về. Đội trưởng khóc, đốt hương ở chỗ cái lán, rồi đội chuyển đi. Đường mới làm ở phía dưới. Từ đó người trong vùng không ai lên khúc cua cũ ấy nữa.

"Ma người Kinh," ông Lử nói, "phải người Kinh gọi. Người Mông mình gọi nó không nghe."

Tối đó tôi ngồi viết vào cuốn sổ khám đến khuya. Tôi ghi lại hết, cái cọc số mười hai, vách taluy, mấy cái hố, dấu giày, lời ông Lử. Tôi ghi cả câu tôi đã tự nhủ về giày cỡ bốn mốt. Ghi xong, tôi không cất sổ vào tủ nữa. Tôi để nó mở trên bàn, cây bút đặt bên cạnh. Tôi nghĩ, nếu có ai muốn nói gì với tôi thì cứ nói.

Sáng hôm sau, ngay dưới dòng cuối của tôi, chữ nghiêng đã đợi sẵn. Lần này chỉ ba dòng, viết vội, nét đuôi kéo dài như người ta viết lúc lạnh tay.

"Ứ phải chỗ ấy. Chỗ ấy là lán. Lên trên bốn mươi bước, chỗ cây sau sau cụt ngọn, dưới rãnh thoát nước. Mày đi chậm quá, Tâm ạ."

Chưa ai trong cuốn sổ ấy viết tên tôi. Chính tôi cũng chưa từng ghi tên mình vào đó.