Chương 5: Ma của người Kinh
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Anh Sình họp huyện về vào chiều thứ hai, mang theo hai thùng thuốc và một tập công văn. Tôi đợi anh ăn cơm xong mới đưa cuốn sổ khám cũ.
Anh Sình hơn tôi bảy tuổi, học y ở Thái Nguyên, là đảng viên, là người Mông duy nhất trong xã có bằng đại học. Anh không tin ma. Hoặc là anh không cho phép mình tin trước mặt người khác. Anh lật từng trang, đọc chữ tôi, đọc chữ nghiêng, không nói gì. Rồi anh gập sổ, gõ gõ ngón tay lên bìa.
"Chữ này chú viết tay trái à?"
Anh cười khi nói câu ấy. Nhưng mắt anh không cười. Tôi bảo anh tôi không đùa. Tôi kể chuyện đôi giày, chuyện cái cọc số mười hai, chuyện ông Lử. Tôi nói muốn lên chỗ cây sau sau cụt ngọn xem thử, đào thử.
Anh Sình lắc đầu. Anh bảo khúc đường cũ ấy huyện đã cắm biển cấm từ lâu, taluy đá phiến mùa này đang ngấm, sạt lúc nào không biết. Anh bảo tôi là cán bộ y tế, đi đào bới tìm ma thì dân nó cười cho, mà nhỡ đất đổ thì anh lấy ai trực trạm. Anh bảo tôi nghỉ vài hôm, về xuôi thăm nhà.
"Chú ở đây bốn năm rồi, chưa về Tết lần nào. Người ta ở một mình lâu, nghĩ nhiều, đêm ngủ không yên. Anh thấy nhiều rồi."
Tôi không về. Tôi cũng không lên đèo. Tôi giận anh Sình mấy hôm liền.
Cuối tuần ấy, chị Mỷ dắt thằng Sử xuống trạm. Lần đầu tiên từ hôm khâu tay, thằng bé chịu đi qua quốc lộ. Đi cùng hai mẹ con là một ông già đội mũ nồi, đeo túi vải chàm, tay cầm một cái mõ con. Chị Xiêm nói nhỏ với tôi, đấy là ông Vàng, thầy cúng có tiếng của mấy bản trên đồi.
Chị Mỷ nói, giọng run, qua chị Xiêm dịch lại. Mấy đêm nay thằng Sử không ngủ. Nhà chị ở trên đồi, nhìn xuống được một khúc quốc lộ. Đêm nào thằng bé cũng ra đứng ở đầu hồi nhìn xuống đường, mẹ gọi không vào.
Nó bảo nó trông thấy chú Hùng đi lên đèo, có đèn pin. Đi lên, gần sáng thì đi về. Chị sợ con chị bị con ma ấy dắt đi mất. Ông Lử bảo phải mời thầy cúng.
Ông Vàng không cúng ở nhà chị Mỷ. Ông bảo cúng ở trạm.
Tôi không hiểu vì sao. Nhưng anh Sình đi vắng, tôi để ông cúng. Ông bày lên bàn khám một bát gạo, một quả trứng gà, mấy tờ giấy bản cắt răng cưa, một bát nước lã. Ông đặt tôi ngồi lên cái ghế giữa phòng, quay lưng ra cửa. Thằng Sử đứng nép sau lưng mẹ, ở góc phòng.
Ông Vàng gõ mõ, lầm rầm khấn. Tiếng mõ khô và đều. Tôi ngửi thấy mùi giấy bản cháy, mùi gạo, mùi mồ hôi người già. Bên ngoài, gió trên đèo bỗng lặng hẳn. Lũ gà ngoài sân đang bới đất cũng im, rút cổ vào cánh.
Rồi ông rút trong túi vải ra hai mảnh sừng trâu nhỏ, vỏ nhẵn bóng vì tay người cầm nhiều năm. Ông khấn một câu dài, tung hai mảnh sừng xuống nền xi măng. Hai mảnh sừng nằm một ngửa một sấp. Ông nhặt lên, tung lần nữa. Lại một ngửa một sấp. Lần thứ ba, hai mảnh sừng cùng nằm sấp, sát chân ghế tôi ngồi.
Ông Vàng nhìn hai mảnh sừng rất lâu. Rồi ông ngẩng lên nhìn tôi, nhìn thẳng vào mặt tôi, không phải vào chỗ sau lưng tôi. Ông nói với chị Xiêm một tràng tiếng Mông, chậm, nặng.
Chị Xiêm nghe xong, ngập ngừng một lúc.
"Ông bảo, ma người Kinh, người Mông không cúng được. Phải người Kinh, phải người nhà nó đến đưa nó về quê. Ông không làm được."
Tôi hỏi chị ông còn nói gì nữa không. Ông nói dài thế cơ mà. Chị Xiêm lắc đầu, bảo ông nói lại mấy lần một ý ấy thôi. Chị cúi xuống nhặt hộ ông mấy tờ giấy bản, không nhìn tôi.
Ông Vàng thu dọn đồ rất nhanh. Quả trứng gà ông không mang về, ông đập vỡ ngay trước cửa trạm. Lòng đỏ chảy ra loang trên bậc xi măng.
Lúc mọi người lục tục ra cửa, thằng Sử bỗng tách khỏi mẹ. Nó đi thẳng về phía tôi. Đến cách tôi một bước, nó dừng, giơ bàn tay có ngón trỏ đã lên da non ra. Nó không chạm vào tôi. Nó nắm vào khoảng không ngay sau vai tôi, rồi kéo nhẹ, như đứa trẻ kéo vạt áo người lớn. Nó nói một chữ tiếng Mông, khẽ.
Chị Xiêm dịch, giọng như hụt hơi.
"Nó bảo, đừng."
Thằng Sử buông tay ra. Khoảng không ấy vẫn chỉ là khoảng không. Nhưng tôi thấy sau gáy mình lạnh đi một vệt, đúng chỗ ấy, như có ai vừa thở ra.
Tối đó, tôi ngồi một mình ở phòng khám, cuốn sổ mở trước mặt. Tôi lật lại từ đầu. Hơn một chục trang chữ tôi, gần chục trang chữ nghiêng. Chữ nghiêng mỗi lần một dài hơn, một vội hơn. Có trang nó viết hẳn tên đồng đội: Lực, Toản, chết cả. Có trang nó viết tên làng: xóm Bốn, xã Hải Phong, Hải Hậu. Có trang chỉ viết đi viết lại một câu: "Bu ơi con ở đây."
Tôi quyết định đêm nay không ngủ. Tôi sẽ thức canh cuốn sổ đến sáng. Ai đến viết, tôi phải thấy tận mắt.