Chương 6: Đêm thức canh sổ
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Tôi chuẩn bị như chuẩn bị cho một ca trực đẻ khó. Một ấm chè Shan pha đặc, một gói lạc của chị Xiêm, cái đèn tích điện sạc đầy, áo khoác dày. Tôi cài then cửa chính phòng khám, kéo ghế ngồi quay lưng vào tường, mặt nhìn ra cửa sổ. Cuốn sổ mở trên bàn, cây bút bi tôi rút ra khỏi túi áo, đặt ngang trang giấy trắng.
Tôi cởi giày, để ngay dưới chân bàn, cho mình nhìn thấy được. Nền xi măng lạnh, tôi gác chân lên thanh ngang của ghế.
Chị Xiêm ngủ ở gian phòng đẻ, cách một bức tường. Trước khi đi ngủ, chị đứng ở cửa nhìn tôi, lắc đầu, bảo tôi giống thằng đi canh trộm ngô.
Khoảng mười giờ thì mất điện, chuyện thường ngày ở xã. Tôi bật đèn tích điện. Ánh sáng trắng xanh, chói, rọi một vòng tròn trên mặt bàn, ngoài vòng ấy là bóng tối. Cửa sổ thành một tấm gương đen. Tôi thấy mình trong đó, mặt nhợt, tóc rối, ngồi sau cái bàn khám như ngồi sau một cái quầy.
Đêm trên đèo không im. Có tiếng dế dưới chân tường, tiếng gió lùa qua khe mái tôn, tiếng con chó nhà ai sủa xa xa dưới bản. Tôi uống chè, bóc lạc, ghi giờ vào một mẩu giấy riêng. Tôi tự nhủ, mình là người làm y, mình ngồi canh một cuốn sổ, không có gì phải sợ.
Đến khuya, tiếng dế tắt.
Không phải tắt dần. Tắt như ai bấm công tắc. Gió cũng lặng. Con chó dưới bản bặt tiếng. Trong cái im ấy, tôi nghe rõ tiếng tim mình và tiếng đèn tích điện kêu rè rè rất khẽ.
Rồi tôi ngửi thấy mùi. Mùi đất đỏ mới bới lên, ngai ngái, ẩm. Lẫn trong đó là mùi lạc rang, thơm và hơi khét, giống hệt mùi lạc bà nội tôi rang trong chảo gang những chiều cuối năm. Gói lạc của chị Xiêm là lạc luộc.
Tôi nhìn vào tấm kính cửa sổ.
Trong đó vẫn là tôi, ngồi sau bàn. Nhưng ngay sau vai trái tôi, sát đến mức gần như dính vào, có một cái bóng. Một người đàn ông, đội mũ cối, cái mũ đã bẹp một bên vành. Mặt người ấy tối, lấm lem như vừa chui từ dưới đất lên. Người ấy cúi xuống, đầu nghiêng về phía tai tôi, như người ta cúi xuống ghé tai bạn để nói một câu riêng.
Tôi không quay lại. Tôi biết nếu quay lại tôi sẽ không thấy gì, và cái không thấy gì ấy còn đáng sợ hơn. Tôi nhìn thẳng vào cái bóng trong kính, mở miệng, giọng tôi khàn đặc:
"Anh Hùng phải không. Anh muốn gì thì anh nói."
Cái bóng không trả lời. Nhưng cây bút bi trên trang sổ khẽ lăn. Lăn chậm, từng nấc, về phía tay phải tôi đang đặt trên mép bàn. Tôi rụt tay về, giấu xuống đùi.
Rồi cơn buồn ngủ đến. Không giống buồn ngủ bình thường. Nó nặng, ấm, đè xuống từ hai vai, như có hai bàn tay ấn tôi ngồi xuống.
Tôi nhớ có lần ở trường tôi được gây mê để mổ ruột thừa, cái cảm giác chìm xuống trước khi tắt ấy. Tôi véo đùi mình thật mạnh. Tôi cắn vào lưỡi. Vị máu mặn chát. Mắt tôi vẫn díp lại.
Trong kính, cái bóng sau vai tôi không còn cúi nữa. Nó đứng thẳng lên, và tôi thấy nó gần lại, gần lại, cho đến khi trong kính chỉ còn một hình người.
Tôi không nhớ gì sau đó.
Tôi tỉnh vì tiếng gà gáy. Trời ngoài cửa sổ đã xám. Tôi đang ngồi trên ghế, đúng tư thế lúc trước, lưng dựa tường. Cái đèn tích điện đã cạn, tắt ngấm. Lưỡi tôi sưng, trong miệng còn vị máu. Đùi tôi có một vết bầm tím bằng đồng xu.
Cuốn sổ trước mặt có thêm hai trang chữ nghiêng.
Cây bút không còn nằm trên trang sổ. Nó đang cài trong túi áo ngực của tôi, nắp đậy cẩn thận, đúng chỗ tôi vẫn cài nó mỗi ngày.
Tôi đọc hai trang ấy, tay run không giữ nổi tờ giấy. Lần này nó viết cho tôi.
"Tâm ơi. Mày người Giao Thủy, qua sông là Hải Hậu nhà tao. Đêm hôm ấy tao cầm đèn bão lên rãnh xem nước. Đất trên đỉnh trôi xuống trước, kéo tao sang ngang bốn mươi bước, vùi dưới gốc sau sau.
"Tao nằm đấy nghe chúng nó đào chỗ lán ba ngày. Tao gọi mà ứ đứa nào nghe. Mười bảy năm rồi mới có đứa quê mình lên. Mày đưa tao về với bu."
Cuối trang, chữ Hùng ký đè lên dòng kẻ in sẵn "xử trí".
Tôi đứng dậy. Hai chân tê cứng, bàn chân lạnh như đá. Tôi nhìn xuống. Gan bàn chân tôi đen kịt, lấm một lớp đất mịn, kẽ ngón chân có những vụn đỏ. Tôi nghĩ ngồi chân trần trên nền xi măng cả đêm thì thế. Đôi giày vẫn nằm dưới chân bàn, sạch, khô, đúng chỗ.
Tôi đi ra cửa. Then cửa chính phòng khám đã được kéo ra. Cánh cửa khép hờ, gió sớm lùa vào lạnh buốt.
Tôi nhớ mình đã cài then. Tôi nhớ rõ.
Chị Xiêm bước ra từ gian phòng đẻ, vừa đi vừa búi tóc. Chị nhìn tôi, nhìn cái cửa, rồi hỏi một câu tôi không trả lời được.
"Đêm qua em gọi điện về nhà à? Chị nghe em nói chuyện với ai lâu lắm, cứ 'ứ' với 'bu', giọng dưới xuôi đặc."
Tôi bảo chị, cả đêm tôi không nói một lời nào.