☾ Truyện Ma Có Thật
← Hai nét chữ trong sổ khám

Chương 7: Người cùng đội

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Tôi xin anh Sình nghỉ một ngày, nói là xuống thị trấn mua thuốc. Anh nhìn quầng mắt tôi, ký giấy luôn, không hỏi.

Thị trấn Mù Cang Chải hồi ấy chỉ là một dãy phố dọc quốc lộ, nhà ống hai ba tầng, mấy hàng tạp hoá, cây xăng, chợ. Ông Lử dặn tôi tìm quán cơm của bà Sinh ở gần chợ. Bà là người Thái Bình lên đây từ những năm tám mươi, nấu cơm thuê cho đủ các đội làm đường, làm thuỷ lợi. Ông bảo người Kinh lên xuống đèo ai cũng ăn cơm bà.

Quán bà Sinh là một gian nhà gỗ thấp, bàn ghế nhựa đỏ, nồi canh xương to bằng cái thúng sôi lục bục trên bếp than. Bà ngoài bảy mươi, lưng còng, nói giọng Thái Bình còn nguyên. Tôi gọi một suất cơm, đợi quán vãn khách mới hỏi.

Nghe tôi nhắc đến đội làm đường năm chín tám, bà đặt cái muôi xuống.

"Đội anh Tiến. Đội ba. Toàn trai Nam Định."

Bà nhớ hết. Bà nhớ cả đội mười hai người, tháng nào cũng xuống thị trấn ăn một bữa thịt. Bà nhớ anh Hùng là đứa trẻ nhất, gầy, cười hở lợi, túi áo lúc nào cũng có lạc rang bu gửi lên. Anh hay ngồi ở góc quán viết thư, xin bà tờ giấy bọc đường để viết cho đủ.

"Chữ nó đẹp lắm. Nó viết hộ thư cho cả đội. Đứa nào thương vợ thương bu mà không biết nói thì nhờ nó."

Bà còn giữ số điện thoại anh Tiến, ghi trên tấm lịch treo tường năm 2009 bà chưa nỡ bỏ. Bà bảo anh Tiến năm nào cũng lên thắp hương ở khúc cua cũ, đến mấy năm gần đây ốm mới thôi, Tết nào cũng gọi điện chúc bà.

Tôi ra ngoài hiên, bấm số. Chuông đổ lâu. Rồi một giọng đàn ông già, khàn, giọng Nam Trực:

"Ai đấy?"

Tôi nói tôi là y sĩ trạm xã dưới chân Khau Phạ, quê Giao Thủy. Tôi hỏi anh có biết cua Tay Áo không.

Đầu dây bên kia im rất lâu. Tôi tưởng mất sóng. Rồi anh Tiến hỏi lại, giọng thay hẳn:

"Cậu nghe cái tên ấy ở đâu?"

Tôi kể. Kể ngắn thôi, cậu bé người Mông, cuốn sổ, chữ nghiêng.

Tôi đọc cho anh nghe mấy cái tên trong sổ. Cua Tay Áo. Dốc Thở Ba Lần. Cọc mười hai. Lán dưới taluy. Lạc rang.

Anh Tiến bảo những cái tên ấy là do thằng Hùng đặt. Nó có cái tật thấy khúc cua nào cũng đặt tên, cả đội gọi theo cho vui. Không ai ngoài đội biết. Sổ sách công trình ghi bằng lý trình, không ghi tên ấy. Đội giải tán năm 2000, mười hai đứa giờ chết mất bốn.

Rồi anh kể đêm hôm ấy. Giọng anh bình thường như kể chuyện người khác, chỉ có hơi thở là nặng.

Mưa liền mười mấy ngày. Chiều hôm ấy thằng Hùng lên báo taluy đang ngấm, đá phiến bắt đầu rỉ nước ra màu đỏ. Anh bảo sáng mai chuyển lán. Anh tiếc đoạn đường đang làm dở, tiếc ba hôm công. Đêm ấy thằng Hùng không ngủ được, cầm đèn bão trèo lên rãnh thoát nước phía trên xem nước có tràn không. Đất đổ lúc nó đang ở trên ấy.

"Bọn tôi tưởng nó ở trong lán. Cả đội cả bản đào chỗ lán ba ngày, tìm được thằng Lực với thằng Toản. Thằng Hùng không thấy đâu. Bọn tôi không biết nó đã ra khỏi lán. Cái đèn bão của nó đến giờ cũng không ai thấy."

Anh dừng lại, hít một hơi dài.

"Tôi bảo chuyển lán sáng mai. Giá mà tôi bảo chuyển ngay tối ấy."

Tôi không biết nói gì. Tôi hỏi anh còn giữ được chữ anh Hùng không. Anh bảo còn. Anh giữ cuốn nhật ký thi công của đội ba, do chính thằng Hùng ghi, vì cả đội nó viết đẹp nhất, học sư phạm năm nhất thì bỏ về đi làm lấy tiền cưới vợ. Tôi chụp ảnh mấy trang sổ, gửi qua điện thoại cho đứa cháu anh Tiến để nó mở cho anh xem.

Tôi ăn hết suất cơm nguội, ngồi đợi ở quán bà Sinh. Gần tối, điện thoại rung.

"Chữ thằng Hùng." Giọng anh Tiến run. "Đúng chữ nó. Cái chữ g đuôi dài, cái chữ h có khuyết. Nó ký tên kéo cái móc ra như thế. Tôi đặt cạnh nhật ký thi công, y hệt."

Tôi hỏi anh có biết vì sao chữ ấy lại hiện trong cuốn sổ của tôi không. Anh im một lúc. Rồi anh kể một chuyện mà tôi nghe xong ngồi lặng đi giữa quán.

"Thằng Hùng có cái tật từ bé, bu nó kể. Đêm ngủ say là ngồi dậy, đi lại, có khi ngồi viết. Ở lán, mấy lần bọn tôi thấy nó nửa đêm ngồi dậy viết thư cho con Nhài, mắt nhắm, sáng ra hỏi thì nó không nhớ gì. Cả đội trêu, bảo thằng Hùng ngủ còn chăm hơn thức."

Anh Tiến hứa, cuối tháng sau gặt xong, anh sẽ đưa em trai thằng Hùng lên. Anh bảo tôi đừng tự lên chỗ ấy một mình. Anh nhắc đi nhắc lại câu ấy rồi mới cúp máy.

Tôi về đến trạm lúc trời đã tối hẳn. Hai mươi cây số đèo trong sương làm tôi rã rời. Tôi không ghi sổ, không ăn, đổ người xuống giường, ngủ như chết.

Sáng ra, tôi mở cửa phòng và đứng sững.

Dựa vào tường ngay cạnh cửa là cái xẻng của trạm. Cái xẻng cán gỗ dùng để khơi rãnh quanh nhà mùa mưa, bình thường anh Sình khoá trong kho củi sau bếp, chìa treo ở phòng khám. Lưỡi xẻng bám một lớp đất đỏ dày, còn ướt, lẫn những vảy đá phiến xám xanh. Chỗ tay cầm trên cán gỗ có hai vệt sẫm, nhẵn, như vừa có người nắm rất chặt suốt một đêm.