Chương 3: Vai áo trước ống kính
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Tôi cất cái máy Zenit vô đáy tủ, lấy cái áo mưa đắp lên. Tôi gọi cho mấy nhà đã đặt, nói máy hư, xin hẹn lại. Một nhà chịu, một nhà không.
Nhà không chịu là nhà ông giáo Đặng ở Nhơn Phong. Ông giáo là chú họ của má tôi, dạy văn cấp hai ba chục năm, mất vì tai biến. Má nghe tôi định từ chối thì đặt cái rổ rau xuống.
"Chú Đặng hồi đó cho mầy mượn tiền đóng học. Giờ mầy hổng chụp đám cho ổng thì ai chụp? Máy hư thì sửa, hổng thì mượn. Đi."
Tôi không có máy nào để mượn. Thằng bạn đã lấy lại cái máy số. Tối đó tôi lôi cái túi da ra khỏi tủ, ngồi nhìn nó rất lâu.
Tôi tự đặt luật cho mình. Chụp bàn thờ, chụp quan tài, chụp vòng hoa, chụp di ảnh. Không chụp người. Không chụp cảnh có người trẻ đứng. Ai muốn chụp chung với gia đình thì tôi nói phim hết. Tôi nghĩ, không có ai trong khung thì bà không có ai mà đứng sau.
Đám ông giáo làm ba ngày. Nhà ông ở sát đường bê tông, sân trước lát gạch tàu, có cây khế già. Học trò cũ về đông, có người từ Sài Gòn, có người từ Pleiku, đứng chật cả sân. Trời âm u suốt, cứ chừng một tiếng lại đổ một cơn mưa lâm râm, bạt rạp kêu lộp độp.
Má tôi đi từ ngày đầu, phụ bếp, rửa chén, tối ngồi canh nhang. Má mặc cái áo bà ba nâu, khăn tang quấn đầu. Tôi đi lui đi tới trong rạp với cái máy đeo trước ngực, chụp cái bàn thờ từ ba phía, chụp cái quan tài sơn son, chụp mấy vòng hoa có dải băng tím ghi tên trường. Người ta nhìn tôi lạ. Một thằng chụp đám mà né người như né mưa.
Chỉ có một lần tôi lỡ. Chiều ngày thứ hai, lúc tôi canh máy chụp tấm di ảnh ông giáo cho rõ, má tôi bước vô khung, tay cầm nắm nhang, cúi xuống cắm vô lư. Tay tôi đã bấm. Tôi nghe cái màn trập kêu cạch, nặng, khô. Má quay lại hỏi tôi chụp chi má, má đầu tóc như vầy. Tôi cười, nói không có chi.
Đêm đó tôi không ngủ được. Gió thổi tấm bạt rạp nhà kế bên phần phật. Tôi nằm nghe má ngáy nhẹ ngoài võng, cứ chốc chốc lại đứng dậy vén màn coi.
Ngày đưa đám xong, tôi đem phim xuống Kim Long. Tôi đứng đợi trong tiệm, nhìn cái máy rửa ảnh nhả từng tấm ra khay. Cô Hạnh liếc tôi mấy lần mà không nói.
Gần hết cuộn đều sạch. Bàn thờ, quan tài, vòng hoa, sạch trơn. Tôi đã bắt đầu thở được. Rồi tấm có má tôi ra khỏi máy.
Lần này bà không đứng sau lưng ai.
Một nửa bên trái tấm ảnh bị che bởi một mảng đen nhoè. Phải nhìn một lúc tôi mới ra đó là một bờ vai. Vai áo bà ba đen, gần ống kính tới mức mất nét, sát tới mức tôi thấy được đường chỉ khâu ở nách áo. Bờ vai đó trễ xuống. Bà đứng chắn giữa ống kính và má tôi, lưng quay về phía bàn thờ, mặt quay về phía tôi.
Mặt không thấy, vì nó đã ra khỏi khung, lên trên mép ảnh. Chỉ thấy một bàn tay. Một bàn tay gầy, các khớp ngón to, đưa ra phía trước, ngón trỏ hơi cong như sắp gõ vào mặt kính.
Phía sau bàn tay ấy, nhỏ và rõ nét, là má tôi đang cúi cắm nhang.
Cô Hạnh cầm cuộn âm bản lên soi đèn. Cô chỉ cho tôi coi. Ngay ô phim đó, ở góc trái, có một dấu mờ hình bầu dục, có vân. Như dấu một đầu ngón tay ấn lên lớp thuốc phim.
"Em có mở nắp máy lúc còn phim hông?"
Tôi nói không. Cô gật, không hỏi thêm, cuộn phim lại bỏ vô bao giấy cho tôi. Lúc tôi trả tiền, cô nói nhỏ:
"Ông Tư hồi đó cũng có mấy tấm vậy. Ổng hổng cho chị bỏ."
Tôi chạy về nhà. Trên đường, tôi nghĩ tới thằng Thành, thằng Tín. Tôi nghĩ tới má, chân đi dép nhựa, lên xuống cái bậc thềm cao ở chợ mỗi sáng lúc trời còn tối.
Má đang ngồi lặt rau muống ở hiên. Thấy tôi, má nói ngay, như đã đợi để nói:
"Sáng nay có một bà già lạ hoắc tới sạp xôi. Bà hổng mua chi. Bà đứng đó hỏi má: thằng Lộc có ở đây hông con."
Tôi hỏi bà ấy trông ra sao.
"Gầy gầy, áo đen, đứng xiêu xiêu một bên. Má nói ở đây hổng có ai tên Lộc. Bả nói, nó hẹn chụp cho tui tấm hình mà nó hổng về. Rồi bả đi. Má ngó theo, đi tới gốc gạo đầu chợ thì hổng thấy nữa."
Má đứng dậy, vô nhà, đem ra một vật đặt lên bậc thềm trước mặt tôi.
Một cái bánh ít lá gai, gói lá chuối khô, buộc lạt, còn nguyên. Má nói bà ấy để lại trên mâm xôi lúc má quay đi bỏ tiền thối cho khách. Má tưởng bà để quên. Má chạm vô cái bánh, nhăn mặt.
"Bánh gì mà để từ sáng tới giờ, còn ấm."