Chương 4: Người tên Lộc
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Cái bánh ít má để trên bậc thềm tới tối thì nguội. Tôi không dám ăn, cũng không dám bỏ. Má lấy một tờ giấy báo gói lại, đặt lên trang thờ ông Táo trong bếp, nói để đó rồi tính.
Tôi hỏi khắp chợ Gò Găng ai tên Lộc. Có ông Lộc bán thuốc rê, đã chết năm ngoái. Có thằng Lộc con bà bán cá, mới mười hai tuổi. Có bà Lộc làm nghề đỡ đẻ ở Nhơn Hưng, nhưng là đàn bà. Chẳng có ai hẹn chụp ảnh cho bà già nào.
Rồi tôi nhớ tấm ảnh trên bàn thờ ở Gò Dài. Ông gầy, đeo kính trắng, cổ áo cài kín. Dưới tấm ảnh có cái bài vị dán giấy, tôi đã liếc qua mà không đọc.
Sáng hôm sau tôi qua Gò Dài. Anh Hoà đang vá ruột xe ngoài hiên. Tôi không chào hỏi gì, hỏi luôn tên thật ông Tư là gì.
"Nguyễn Văn Lộc. Sao dị?"
Tôi ngồi xuống bậc thềm. Tôi kể cho anh nghe. Thằng Thành, thằng Tín, bờ vai áo đen trước mặt má tôi, cái bánh ít. Anh Hoà nghe, tay vẫn mân mê cái ruột xe, không ngẩng lên. Kể xong tôi lấy cái túi da đặt xuống trước mặt anh.
"Em trả anh. Tiền thì thôi, em hổng lấy lại."
Anh Hoà đẩy cái túi về phía tôi, đẩy bằng mu bàn tay, như người ta đẩy một con dao.
"Hổng được. Ổng dặn rồi. Hổng được để ở nhà, hổng được chôn theo ổng. Phải đưa cho người chụp."
Tôi hỏi vì sao. Anh im một lúc lâu. Ngoài ngõ có tiếng xe bò lóc cóc đi qua.
"Ổng nói để máy nằm không thì bả đi kiếm."
Tôi hỏi bả là ai. Anh lắc đầu. Anh nói thật là anh không biết rõ. Ba anh không bao giờ nói. Anh chỉ biết hồi anh còn nhỏ, có mấy năm trong xóm người ta xầm xì chuyện ông Tư nhận tiền chụp đám cho một nhà bên Tây Sơn rồi làm mất cuộn phim. Bà cụ nhà đó chết không có tấm hình thờ. Người ta nói ông mắc nợ vong.
"Tui hổng biết thiệt hay giả. Ổng chụp đám tới lúc tắt thở. Có đám ổng đi bộ bảy cây số. Ổng nói ổng còn nợ một tấm hình."
Tôi về nhà với cái túi da trong giỏ xe, đầu óc rối như cuộn chỉ. Dọc đường tôi nghĩ ra một chuyện cho mình yên: bà cụ kia là người nhà bên Tây Sơn. Ông Tư mắc nợ bà, giờ ông chết, bà đi theo cái máy của ông để đòi. Thằng Thành, thằng Tín, má tôi chỉ là người đứng gần ống kính. Tôi phải tìm cho ra cái nhà bên Tây Sơn đó.
Mấy hôm sau tôi chạy lên Tây Sơn hai lần. Hỏi mấy ông già ngồi quán nước ở Phú Phong, có người nhớ ông Tư Ảnh, nhớ ông hay đi chụp đám trên này hồi sau giải phóng. Nhưng không ai nhớ chuyện cuộn phim nào bị mất. Một ông lắc đầu, rít thuốc lào.
"Ổng chụp kỹ lắm. Hình ổng chụp, nhà tui còn treo. Mất phim là mất cái chi, chớ ổng hổng mất phim."
Tôi về, lần này về tay không.
Tôi không đem cái máy ra tiệm nữa. Tôi lắp một cuộn phim mới vô, đậy nắp ống kính, cột sợi thun lại, rồi khoá nó trong ngăn tủ kính ở tiệm, cái ngăn có ổ khoá nhỏ tôi vẫn dùng để cất tiền. Tôi nghĩ, có phim trong máy, máy không nằm không. Tôi không biết vì sao tôi nghĩ vậy. Chỉ là anh Hoà nói thế.
Tôi nhận lại chụp đám bằng một cái máy số cũ mua trả góp ở Quy Nhơn. Thằng Tín vẫn nằm bó bột ở nhà. Tôi đi chụp một mình, đèn flash gắn trên máy.
Má vẫn khoẻ, nhưng má bắt đầu than chóng mặt mỗi sáng. Má vẫn dậy sớm nấu xôi, vẫn gánh ra chợ, không chịu nghỉ. Tôi nói má nghỉ vài hôm, má nói nghỉ rồi tiền đâu đóng hụi. Tôi không nói lại được. Tôi cũng đi suốt. Có tuần tôi về tới nhà thì má đã ngủ, đi thì má chưa dậy.
Một buổi chiều cuối tháng Mười, tôi mở ngăn tủ kính lấy tiền thối cho khách. Cái máy Zenit nằm đó, nắp ống kính vẫn cột thun. Tôi cầm lên định lau bụi thì thấy cái đếm hình nhỏ ở trên đỉnh máy.
Lúc lắp phim tôi đã quay tới số một. Giờ cái kim chỉ số bốn.
Ba kiểu đã chụp. Trong một cái ngăn khoá, ống kính đậy nắp.
Tôi đứng đó, tay cầm cái máy, nghe ngoài chợ người ta dọn hàng, tiếng xe ba gác kéo lọc cọc. Khách đứng đợi tiền thối, gọi tôi hai ba lần. Tôi nhìn cái nắp ống kính. Sợi dây thun cột nó vẫn còn đó, nhưng đã không nằm ở chỗ tôi cột. Nó bị kéo lệch sang một bên, như có ai vừa gỡ ra, rồi cột lại vội.
Vội, và không quen tay.