Chương 6: Hộp sắt đựng phim
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Má nằm viện mười một ngày. Miệng má đỡ méo dần, tay trái cầm được cái muỗng. Bác sĩ nói về nhà phải tập, phải kiêng mặn, không được gánh xôi nữa. Má nghe vậy thì quay mặt vô tường.
Tôi bỏ hết đám. Tôi ngủ trên cái chiếu trải dưới gầm giường bệnh, sáng ra mua cháo, chiều lau mình cho má. Tôi chưa bao giờ ở gần má lâu như vậy từ hồi đi học nghề.
Ngày thứ ba, thằng Tín chống nạng tới thăm, chân còn bó bột tới gối. Nó ngồi ở mép giường, gọt trái lê cho má tôi, lóng ngóng vì một tay vịn nạng.
"Em hổng đi Bình Dương nữa anh. Má em bữa em té, khóc quá trời. Bả nói mầy đi rồi tao chết trong nhà cũng hổng ai hay."
Nó cười cười, mắt đỏ. Tôi nhìn nó và nhớ tới tấm ảnh dưới cổng hoa.
Ngày thứ năm, anh Hoà tới. Anh mặc áo sơ mi cũ, tóc chải gọn, tay cầm một bịch cam và một cái hộp bánh quy bằng sắt, nắp in hình cối xay gió, rỉ ở bốn góc. Anh đặt cái hộp lên đầu tủ sắt cạnh giường.
"Ba tui dặn, đứa nào mua máy mà quay lại hỏi chuyện bả thì đưa cái ni. Bữa trước chú em hỏi mà tui hổng chịu đưa. Tui sợ. Nghe má chú em dị, tui đem lại."
Tối đó, chờ má ngủ, tôi mở hộp dưới ngọn đèn hành lang.
Trong hộp là mấy chục bao phim âm bản, bao giấy ngả vàng, ngoài bao ghi năm bằng mực tím: 1984, 1985, 1987, cứ thế tới 2009. Dưới cùng là một cuốn sổ bìa cứng màu xanh, gáy dán băng keo, loại sổ ghi hụi của mấy bà ngoài chợ.
Sáng hôm sau tôi gửi má cho thằng Tín coi một buổi, ôm cái hộp xuống tiệm Kim Long. Cô Hạnh dọn cho tôi cái bàn soi phim, một tấm kính mờ có bóng đèn bên dưới, đưa luôn cái kính lúp của cô.
Tôi soi từ năm 1984.
Âm bản thì trắng đen đảo ngược. Áo tang trắng hiện thành đen, trời hiện thành đen, tóc người ta hiện thành trắng. Một cái áo bà ba đen thì hiện thành một bóng trắng, sáng như cục than đỏ trong bếp tối.
Cái bóng trắng đó có mặt trong cuộn đầu tiên. Ở đám nào đó năm 1984, đứng sau một bờ tre.
Rồi năm 1985. Rồi 1987. Đám ở Nhơn Mỹ, đám ở Phú Phong, đám ở Cát Hiệp. Không phải cuộn nào cũng có, có khi mấy tháng liền không thấy. Nhưng khi có, bao giờ cũng vậy: nhỏ, xa tít phía sau đám đông, ở mép bờ rào, mép ruộng, mép nghĩa địa. Đứng nghiêng, vai lệch. Mặt bao giờ cũng quay đi, quay về phía khác, phía không có ống kính.
Hai mươi lăm năm. Không bao giờ gần hơn.
Tôi ngồi đó tới trưa. Cô Hạnh mang cho tôi ly nước, đứng sau lưng tôi coi một lúc, rồi đi ra mà không nói gì. Cái bàn soi nóng hầm hập dưới hai cẳng tay.
Bà không theo tôi. Bà chưa bao giờ theo tôi. Bà theo cái máy. Bà đã đứng trong ảnh của ông Tư từ trước khi tôi biết cầm máy.
Tôi mở cuốn sổ xanh.
Chữ ông Tư nhỏ, nghiêng, đều như chữ học trò trường làng. Mỗi dòng là một cuộn phim: ngày, tên đám, xã, số cuộn. Cuối vài dòng có một chữ ghi thêm bằng bút chì: "Có bả." Có khi thêm một câu ngắn.
"Có bả. Đứng sau thằng Hiền con bà Tám Nhơn Mỹ."
Hai dòng dưới, mấy tuần sau:
"Thằng Hiền té xe gãy tay, hổng đi Long Khánh nữa. Bà Tám có người nuôi."
Tôi lật tiếp. Năm 1991: "Có bả. Sau lưng con Lụa." Rồi: "Con Lụa trật chân, ở nhà nuôi cha bại."
Năm 1998: "Có bả. Thằng Thắng." Rồi: "Thằng Thắng lỡ chuyến tàu ra Bắc. Đêm đó mẹ nó lên cơn suyễn."
Cứ vậy, rải rác suốt mấy chục trang. Đứa nào bà đứng sau lưng cũng gặp nạn. Đứa nào gặp nạn cũng phải ở nhà. Và nhà đứa nào cũng có một người già.
Tôi nghĩ tới thằng Thành và má nó ở hành lang bệnh viện. Tới má thằng Tín khóc. Tới má tôi nằm trên nền bếp cạnh nồi xôi sôi trào.
Những trang cuối, chữ ông Tư run, nét bút chì đè mạnh tới rách giấy.
"Bả gần lên rồi."
"Bả day mặt qua rồi. Chưa rõ."
"Bả tới cổng rồi."
Dòng cuối cùng ghi một ngày tháng Tám năm 2009, không có tên đám, không có số cuộn. Chỉ một câu:
"Bả nói lần ni đứng yên."
Kẹp giữa trang cuối và bìa sau là một tờ giấy pơ-luya gấp tư. Tôi mở ra. Một bức vẽ bút chì, vẽ chân dung một bà cụ. Gò má cao, miệng móm, tóc bới. Vẽ đi vẽ lại, nét tẩy chồng lên nét vẽ, chỗ mắt bị tẩy tới thủng giấy. Không thành một khuôn mặt. Chỉ thành một vết mòn.
Dưới góc, chữ ông Tư:
"Vẽ lần thứ bốn mươi. Hổng giống."
Tôi lật mặt sau. Ở đó chỉ có hai dòng, viết bằng thứ mực tím đã phai:
"Bánh ít lá gai. Vai trái."