☾ Truyện Ma Có Thật
← Chén nước lèo trên tủ thờ

Chương 9: Hũ về từ đáy sông

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Hai ngày sau cô Diệp ghé, ông Ba quyết bỏ cái hũ.

Ông không nói với tôi trước. Sáng đó trời chưa sáng hẳn, sương còn đọng trên lan can bờ kè, ông tới quán, không bắc nồi, không múc chén. Ông bắc ghế đẩu, tháo cái giỏ mây xuống, ôm vô bụng như cái hôm ông ôm nó về. Ông đi khập khiễng ra bờ kè, hai chân còn quấn băng.

Tôi chạy theo. Ông không cản.

Ông đi dọc bờ kè tới khúc sông quẹo, chỗ nước sâu, ghe lớn hay đậu. Ông đứng sát lan can, nhìn xuống mặt nước màu đục phù sa. Một chùm lục bình trôi ngang. Ông nói nhỏ, không biết nói với tôi hay với cái hũ.

"Tao trả mày cho sông. Mày muốn đi đâu thì đi."

Ông quăng cái giỏ ra xa. Cái giỏ rơi xuống nước, nổi lên một chút, rồi chìm, chìm thẳng như có ai kéo từ dưới đáy. Mặt sông khép lại, không gợn một vòng tròn nào.

Ông Ba đứng nhìn chỗ đó lâu lắm. Rồi ông quay về, mở quán, bắc nồi. Lần đầu tiên từ tháng Ba, chén đầu nồi không ai múc. Cái chén sứt hai chỗ nằm úp trên nóc tủ thờ, đúng như tôi úp nó hôm trước.

Ngày hôm đó quán vắng hoe.

Không phải vắng như hồi chưa treo hũ. Vắng kiểu lạ lùng. Chú Hai Lựu chạy xe ngang, nhìn vô, rồi chạy thẳng, như nhìn một cái nhà bỏ hoang. Anh Năm Đen đi bộ ngang, không dừng. Bà Tư vé số đứng trước cửa, ngó vô, nhíu mày như không nhớ mình đứng đây làm gì, rồi đi. Tới trưa, nồi nước lèo năm chục lít còn nguyên.

Ông Ba ngồi trên ghế đẩu, nhìn ra đường. Lần đầu tiên tôi thấy ông cười một cái cười có hơi. Ông nói vắng vậy mà nhẹ người.

Đêm đó tôi không ngủ được.

Côn trùng ngoài bờ kè không im. Mùi hồi quế không lên. Nồi dưới bếp không sôi. Đáng lẽ tôi phải mừng. Nhưng tôi nằm nghe cái im lặng đó, thấy nó giống như cái im của người đang nín thở dưới nước.

Gần sáng, tôi nghe tiếng nước nhỏ giọt. Tóc tách, tóc tách, đều đặn, từ phía tủ thờ.

Tôi xuống. Đèn trái đào đỏ. Cái giỏ mây đã treo lại trên cây đinh, ướt sũng, mây đen lại, bám đầy rễ lục bình và rong rêu. Nước sông nhỏ từ đáy giỏ xuống nóc tủ thờ, chảy tràn qua mép tủ, nhỏ lên đầu Ông Địa. Cái hũ men xanh nằm trong giỏ, sáp ong còn nguyên, men xanh bóng lên như mới lau.

Cái chén sứt hai chỗ không còn úp. Nó nằm ngửa ngay dưới đáy hũ, đầy tới miệng một chén nước sông đục ngầu, phù sa lắng một lớp mỏng dưới đáy.

Tôi không la được. Tôi đứng như trời trồng tới khi ông Ba tới.

Ông thấy cái giỏ. Ông không ngạc nhiên. Ông đứng đó, hai vai sụp xuống, cái lưng còng thêm một chút. Rồi ông ho. Ông ho một tràng dài, ho tới gập người, rồi khạc ra lòng bàn tay một bụm nước màu nâu, trong, lấm tấm mấy giọt mỡ vàng như hạt cườm. Mùi hồi, mùi quế.

Ông nhìn bụm nước trong tay, rồi chùi vô quần.

Ông đi bắc nồi. Ông đổ chén nước sông đi, rửa chén, múc chén đầu nồi, leo lên ghế đẩu bằng hai cái chân quấn băng, đặt chén, khấn. Tôi đứng dưới đỡ ông, không nói gì.

Bảy giờ sáng, khách xếp hàng ra tới lan can bờ kè. Đông hơn mọi bữa, đông hơn bất cứ ngày nào từ hồi treo hũ. Người lạ, người quen, người ở tận Gò Công, Bến Tre chạy xe qua. Có một anh thanh niên dựng xe máy chưa kịp gạt chân chống, xe ngã đè lên chân anh, anh vẫn lết vô ngồi ăn.

Trưa, quán vãn được một chút, ông Ba kêu tôi ra sau bếp. Ông ngồi trên thùng nước mắm, tôi ngồi trên bao gạo.

Ông kể. Ông kể chậm, đứt đoạn, như người đọc lại một lá thư cũ.

Năm ngoái quán ế tới nỗi ông nợ tiền mặt bằng ba tháng. Thằng Phúc đòi tiền học. Ông nghe một người bạn hàng ở chợ cá nói về thầy Chín Miên ở Tịnh Biên, bán ngải cho mấy quán ăn dưới miền Tây, quán nào treo cũng đông. Ông đi. Thầy Chín ở trong một căn nhà lá sau chợ biên giới, nhà treo đầy hình Phật Miên, khói nhang mù mịt.

"Ổng nói ngải này giữ khách. Ổng nói khách ăn của mình thì nó lấy một chút sức của khách, chút xíu thôi, người ta không hay. Ổng nói chú chỉ cần nuôi nó, mỗi sáng một chén nước đầu nồi. Có tới không có lui. Chú gật."

"Rồi ổng có nói cái hũ là của ai trước hông chú?"

Ông Ba nhìn tôi. Tôi kể cho ông nghe chuyện lò bánh Phước Bình, chuyện ông Sáu Bình chết ngồi trước miệng lò, chuyện bà Sáu nói qua điện thoại. Ông nghe, hai tay đan vô nhau, đốt ngón trắng bệch.

"Thầy Chín có nói," ông nói. "Ổng nói cái hũ này đã qua một đời chủ. Chủ cũ ác, hút khách quá tay, nên bị quả báo. Ổng nói chú hiền, chú sẽ không sao."

Ông cười, cái cười méo xệch.

"Chú hút cô Diệp, hút thằng Năm, hút ông Hai. Chú đâu có hiền."

Tôi muốn nói gì đó mà không biết nói gì. Ông Ba móc trong túi áo ra tấm danh thiếp vàng chữ đỏ, tấm tôi đã thấy trong khe tủ kính. Mép danh thiếp giờ sờn tới rách.

"Mai con đi với chú lên Tịnh Biên một chuyến. Chú hỏi ổng cách trả."

Ông ngừng một chút. Ông nhìn xuống hai bàn chân quấn băng của mình.

"Chú đi một mình, chú sợ chú về không tới."