☾ Truyện Ma Có Thật
← Chén nước lèo trên tủ thờ

Chương 3: Chén đầu nồi

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Cô Diệp nghỉ dạy một tuần. Người nhà chở cô đi trạm xá phường, bác sĩ nói thiếu máu, nói làm việc quá sức, cho mấy vỉ thuốc bổ. Tuần sau cô quay lại quán, mặt vẫn xanh, ngồi đúng cái bàn sát tủ thờ, kêu đúng một tô khô một chén nước lèo.

Hôm đó dì Tám Xuyến xin nghỉ.

Dì làm cho ông Ba bảy năm, rửa chén từ hồi quán còn ba cái bàn. Dì nói với ông là chân dì đau, ngồi chồm hổm không nổi. Ông Ba gửi dì thêm nửa tháng lương, dì cầm tiền không đếm. Lúc tôi tiễn dì ra đầu hẻm, dì kéo tôi vô dưới gốc cây me tây, giọng hạ thấp.

"Con nghe dì. Quán này nuôi thứ gì trong đó rồi. Cái hũ đó là ngải. Ngải giữ khách. Người ta ăn rồi phải quay lại, quay lại hoài, tới khi nó rút hết sức người ta mới thôi."

"Sao dì biết?"

"Hồi con gái dì ở dưới Cái Bè, có quán bánh canh treo cái y vậy. Con coi mặt mấy người khách quen đi. Con kiếm chỗ khác mà làm."

Tôi nói con đi đâu bây giờ, ở đây chú Ba trả con cao, lại cho ở. Dì nhìn tôi, thở dài, vỗ vai tôi hai cái rồi leo lên xe ôm của chú Hai Lựu. Chú Hai chở dì đi, cái nón ngôi sao nhỏ dần ở cuối đường bờ kè. Tôi đứng đó nghĩ tới khuôn mặt thâm quầng của chú.

Từ bữa đó tôi để ý cái lệ múc chén đầu nồi kỹ hơn.

Ông Ba tới quán khi trời còn xám, đường bờ kè chưa có xe. Ông mở cửa sắt nhẹ tay, không cho nó rít. Ông vặn bếp, đứng canh nồi, không làm gì khác, không pha cà phê, không hút thuốc. Khi mặt nước lèo vừa gợn những vòng tròn nhỏ, chưa sôi hẳn, ông mới với cái chén trên nóc tủ xuống.

Ông múc bằng cái vá inox lớn, vá đầu tiên, phần nước trong nhất nổi trên mặt, có vài giọt mỡ vàng như hạt cườm. Ông đổ vô chén, không để rớt ra ngoài giọt nào. Rồi ông bưng chén bằng hai tay, bước lên ghế đẩu, đặt chén ngay dưới đáy hũ.

Một sáng tôi giả bộ ngủ, nằm sát mép gác, nghe được ông khấn. Giọng ông thì thào, rời rạc.

"Phần con, con đưa rồi đó. Thầy giữ khách cho con. Phần con, con đưa rồi."

Tôi nghĩ "phần con" là phần cúng, như người ta cúng cơm cho ông bà. Ông là chủ thì ông cúng, vậy thôi.

Giữa tháng Sáu, ông Ba bị cảm. Ông sốt từ tối, dì Ba gọi điện nói sáng mai ông khỏi ra quán, kêu tôi với anh Tài tự bán, nồi nước lèo dì đã hầm sẵn hôm trước. Tôi hỏi còn cái chén trên tủ thì sao. Dì im một lúc, rồi nói để dì hỏi ông.

Sáng ra tôi bắc nồi, vặn lửa. Nước vừa gợn thì cửa sắt rít lên. Ông Ba đứng đó, mặc áo khoác dù, mặt đỏ gay, hai tay run run vịn khung cửa. Dì Ba đứng sau lưng, mắt đỏ như mới cãi nhau.

Tôi chạy lại đỡ ông. Tôi nói để con múc cho chú, chú nói con làm sao con làm vậy. Ông nhìn cái vá trong tay tôi một hồi, môi mấp máy. Tôi thấy ông muốn gật. Rồi ông giật cái vá khỏi tay tôi, mạnh tới nỗi cổ tay tôi đau.

"Thôi. Để tao."

Ông múc chén đầu nồi, run tới nỗi nước lèo sóng sánh ra ngón cái. Ông leo lên ghế đẩu, chân ghế lắc, tôi phải đứng dưới ôm chân ông. Ông đặt chén, khấn, rồi gần như té xuống. Dì Ba dìu ông về. Ông không quay đầu nhìn lại cái hũ.

Hôm đó quán vẫn đông như mọi bữa. Ông không có mặt, vậy mà khách vẫn xếp hàng.

Mặt khách quen thì cứ xấu dần, nhưng không phải xấu kiểu bệnh. Tôi bắt đầu nghe họ kể chuyện với nhau trong lúc chờ tô.

Chú Hai Lựu bị mất xe. Chú dựng xe trước cửa chợ, vô mua bịch thuốc rê, ra thì xe không còn. Xe Wave đời cũ, cả gia tài của chú. Thằng con trai chú đang học lớp mười một bị đuổi học vì đánh nhau, chú nói thằng nhỏ hiền queo, cả đời chưa đánh ai.

Anh Năm Đen bị chủ ghe quỵt tiền sửa máy, hai chục triệu. Anh đi đòi, bị đánh bể đầu. Anh ngồi ăn hủ tiếu với cái băng trắng quấn trên trán, vừa ăn vừa cười khổ.

"Tui ăn ở đây lâu rồi, có làm gì ai đâu. Năm nay xui như con cá trê lội ngược."

Bà Tư vé số thì trúng một tờ an ủi, đi lãnh tiền về bị giựt túi ngay đầu cầu.

Tôi nghe mà không biết nghĩ sao. Dì Tám nói ngải rút sức người ta. Nhưng mấy người này không bệnh. Họ xui. Tôi tự nói với mình chắc tại sức yếu thì vận cũng yếu, ông bà mình nói vậy.

Tối đó ông Ba còn sốt, dì Ba ở nhà chăm ông. Anh Tài dọn bàn xong thì về. Tôi khoá cửa sắt, tắt bếp, khoá van gas, tắt hết đèn chỉ chừa cây đèn trái đào trên tủ thờ.

Tôi leo lên gác, vặn radio. Đài đang đọc truyện chưởng. Tôi nằm nghe được một đoạn thì nhận ra không có tiếng sôi. Lần đầu tiên từ hồi treo hũ, nồi dưới bếp im ru.

Tôi ngồi dậy, vén mùng, nhìn qua khe ván gác xuống quán.

Ánh đèn trái đào đỏ lờ mờ, chiếu lên tám cái bàn inox phía trong. Ở cái bàn góc sát tủ thờ, cái bàn cô Diệp hay ngồi, có một người đàn ông đang ngồi ăn. Cửa sắt vẫn khoá. Tôi nghe rõ tiếng đũa chạm vào thành tô, chậm, đều, như người già nhai không có răng.