Chương 4: Người khách sau cửa sắt
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Tôi nhìn ông ta qua khe ván gác, không dám thở mạnh.
Ông ta già, gầy, lưng hơi gù. Ông mặc áo thun ba lỗ trắng đã ngả màu vàng, quần xà lỏn sọc, chân không. Hai vai ông lấm tấm một lớp bột trắng mịn, như người vừa khiêng bao bột mì. Ông ngồi quay lưng về phía bếp, mặt hướng lên tủ thờ, cái đầu nghiêng nghiêng như đang nghe ai nói.
Trước mặt ông là một tô hủ tiếu. Tô của quán, tô sứ trắng có in chữ Thạnh Phát màu đỏ. Không có hơi khói nào bốc lên. Ông gắp một đũa, đưa lên miệng, nhai rất lâu, rồi mới gắp đũa khác. Lâu lâu ông bưng tô lên húp, húp một ngụm dài, rồi đặt tô xuống, lắc đầu thật chậm.
Tôi nằm úp mặt xuống chiếu, hai tay bịt tai. Tiếng đũa chạm thành tô vẫn lọt qua kẽ ngón tay. Tôi không biết mình nằm vậy bao lâu. Đến khi tôi dám nhìn lại, cái bàn góc trống trơn, đèn trái đào vẫn đỏ, cửa sắt vẫn khoá.
Sáng ra tôi xuống trước, định coi cho rõ. Trên bàn góc có một cái tô. Trong tô còn một chút nước lèo đã nguội, đóng váng, mấy sợi hủ tiếu nằm dính đáy. Đôi đũa gác ngang miệng tô, ngay ngắn như người ăn xong biết điều. Mặt bàn inox xung quanh rắc một lớp bụi trắng, tôi quẹt ngón tay lên, mịn và hơi ngọt, là bột mì.
Tôi đứng đó thì ông Ba tới. Ông đã đỡ sốt, nhưng mặt còn xám. Ông thấy cái tô, khựng lại ngay bậc cửa.
Ông không hỏi tôi. Ông đi thẳng tới, bưng cái tô lên, đi ra bờ kè, đập nó xuống nền xi măng. Tô bể làm ba. Ông lượm từng miếng, quăng xuống sông Bảo Định. Rồi ông quay vô, lấy khăn ướt lau mặt bàn, lau đi lau lại tới khi không còn một hạt bột.
"Tối qua có ai vô đây hông chú?" tôi hỏi.
"Không ai hết. Tô đó tao quên dọn."
Ông nói vậy rồi đi bắc nồi, múc chén đầu, lên ghế đẩu, khấn. Hôm đó tôi thấy ông khấn lâu hơn mọi bữa.
Tháng Bảy, quán đông tới mức ông Ba sửa lại toàn bộ. Ông cho lót gạch bông mới, sơn lại bảng hiệu, chữ Phát có đủ dấu. Ông mua một chiếc Air Blade đỏ đen, dựng ngay trước cửa cho người ta thấy. Dì Ba đeo một sợi dây chuyền vàng bản lớn và một chiếc nhẫn mặt đá xanh. Thằng con trai ở Sài Gòn được gửi lên cái laptop mới.
Anh Tài thì nghỉ. Anh chạy xe về Gò Công thăm má, tới khúc cầu Chợ Gạo thì bị xe tải quẹt, gãy chân. Ông Ba gửi tiền thuốc. Anh Tài nhắn tin cho tôi, nói lành chân rồi cũng không quay lại, anh không nói vì sao.
Ông Ba mướn thêm hai đứa con gái trẻ dưới Tân Phước lên bưng bê. Hai đứa ở được ba tuần thì một đứa nghỉ, đứa kia ở thêm một tuần rồi nghỉ luôn. Đứa nào đi cũng nhìn cái hũ trên nóc tủ trước khi bước ra.
Quán đông, người làm thì cứ lần lượt đi. Tôi ở lại.
Có một buổi chiều mưa, quán vắng một chút, dì Ba kêu tôi ra quầy phụ dì cột bịch nước lèo bán mang về. Dì cột được mấy bịch thì ngừng tay. Dì ngó ra ngoài mưa, rồi nói, không nhìn tôi.
"Ổng hổng có đi Châu Đốc đâu con. Ổng đi Tịnh Biên, gặp một ông thầy tên Chín. Người ta kêu là thầy Chín Miên, nói thầy đem ngải bên Miên về. Ổng đưa cho người ta ba chục triệu, tiền dì dành dụm cả đời."
"Rồi chú có nói thầy dặn gì hông dì?"
"Ổng nói thầy dặn có tới không có lui. Rồi thôi. Ổng hổng nói nữa."
Dì cột bịch nước lèo cuối cùng, nút thắt chặt quá, sợi thun đứt. Dì nhìn sợi thun đứt trong tay, nói nhỏ như nói với chính mình.
"Ổng ngủ hổng được. Đêm nào cũng ngồi dậy, ngồi ở đầu giường, kêu bụng đói mà dọn cơm ra thì ăn hổng vô. Ổng sụt bảy ký rồi đó con."
Tôi nhìn ra bếp. Ông Ba đang đứng bên nồi, cầm vá khuấy. Cái áo thun ông mặc rộng thùng thình, xương vai nhô lên như hai cái móc áo.
Tối đó tôi không vặn radio. Tôi nằm sát khe ván, chờ.
Côn trùng ngoài bờ kè kêu rả rích một lúc rồi im. Im một lượt, như ai đóng nắp. Rồi mùi hồi quế bò lên gác, ngọt lựng. Dưới bếp, nồi bắt đầu sôi.
Đèn trái đào đỏ. Cái bàn góc trống. Tôi chờ nó có người, mà nó không có ai.
Rồi tôi thấy cái ghế đẩu của ông Ba, cái ghế đặt cạnh tủ thờ, có người ngồi lên. Vẫn là ông già đó. Vẫn cái áo ba lỗ ngả vàng, hai vai lấm tấm bột. Lần này ông không ăn. Ông ngồi đúng chỗ ông Ba hay ngồi mỗi chiều, ngửa mặt nhìn lên cái hũ men xanh, nhìn rất lâu.
Rồi ông từ từ quay đầu, không quay người, chỉ quay cái đầu, ngước lên đúng chỗ khe ván tôi đang nằm.
Mặt ông hốc hác, da nhăn xệ xuống như cái bao bột rỗng. Môi ông mấp máy. Tôi nghe giọng ông nhỏ, khàn, rõ từng tiếng, như ông đang ngồi ngay mép mùng của tôi.
"Nó ăn lạt quá con ơi."