Chương 5: Nêm hoài không mặn
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Câu nói đó tôi nghĩ mãi không ra nghĩa. Nó là cái hũ, hay ông Ba, hay cái nồi. Sáng ra tôi nhìn cái ghế đẩu cạnh tủ thờ, mặt ghế nhựa xanh có một vòng bụi trắng tròn tròn, đúng chỗ người ta ngồi. Tôi lấy khăn lau trước khi ông Ba tới. Tôi không muốn thấy ông đập thêm cái gì nữa.
Tới tháng Tám, ông Ba không còn nếm được gì.
Ông không nói ra, nhưng tôi biết. Ông nêm nước lèo bằng mắt, bốc muối theo thói quen của tay, rồi đưa vá cho tôi nếm. Ông chiên tỏi phi khét đen mà không biết, tôi phải đổ đi chiên lại. Bữa cơm trưa dì Ba mang ra, cá kho tộ, canh chua bông điên điển, ông ăn vài miếng rồi buông đũa.
"Ăn như nhai giấy," ông nói, rồi tự cười, cái cười không có hơi.
Ông gầy tới nỗi cái quần tây phải gấp lưng hai lần, cột bằng sợi dây nịt cũ đục thêm lỗ. Tay ông đếm tiền run. Có bữa ông đếm một xấp năm chục ba lần không ra số, dì Ba giành lấy đếm. Ông ngồi trên ghế đẩu nhìn khách ra vô, mắt đục như nước vo gạo.
Đầu tháng, phường xuống kiểm tra giấy tờ kinh doanh. Anh cán bộ trẻ hỏi năm sinh để ghi vô tờ khai. Ông Ba mở miệng, rồi ngậm lại. Ông nhìn dì Ba.
"Bà ơi, tui tuổi gì vậy bà?"
Dì Ba nói thay: Bính Thân, năm năm sáu. Anh cán bộ cười, nói chú làm ăn bận quá quên luôn tuổi. Ông cũng cười theo. Tôi đứng sau quầy, thấy tay ông bấu vô mép bàn inox, bấu tới trắng đốt ngón.
Khách vẫn ăn sạch tô nước lèo mặn chát. Có người húp xong còn ngồi liếm môi.
Cô Diệp thì lâu rồi không thấy tới. Tôi hỏi chú Hai Lựu, giờ chú chạy xe thuê của người ta, chú nói cô bị điều xuống dạy một điểm trường dưới Tân Phú Đông, xa lắm. Tôi xin địa chỉ nhà cô. Chủ nhật, quán nghỉ buổi chiều, tôi đạp xe tới.
Nhà cô Diệp là nhà ống nhỏ trong một con hẻm sau chợ. Cô ra mở cửa, mặc đồ bộ hoa, vẫn cái kính gọng đỏ. Mặt cô bớt xanh, nhưng mắt mệt. Cô rót cho tôi ly nước đá chanh, rồi kể.
"Chị hổng bệnh đâu Ngân. Bác sĩ khám hoài có ra gì đâu. Chị xui. Xui liên tục, xui tới nỗi chị bắt đầu sợ."
Cô kể từ hồi tháng Tư, cô mất ví hai lần. Cô bị phụ huynh viết đơn tố oan, hiệu trưởng khiển trách trước hội đồng. Nhà cô bị dột ngay chỗ để tủ sách. Má cô ở quê té gãy xương hông. Rồi tới quyết định điều đi điểm trường xa.
"Mà em biết hông, từ bữa bị điều, chị hổng ăn ở quán em nữa. Xa quá. Thèm muốn chết, đêm nằm thèm. Nhưng mà mấy tuần nay, hổng có chuyện gì xui thêm."
Cô nói xong thì im, nhìn tôi như chờ tôi giải thích. Tôi không giải thích được. Tôi chỉ thấy lạ một điều: cô nói xui, chứ không nói mệt. Người ta bị rút sức thì phải mệt chứ.
Tối đó về quán, ông bà Ba đã về nhà. Tôi dọn quầy, lau mặt kính tủ đựng thuốc lá. Trong khe giữa mặt kính với khung nhôm, tôi thấy một tấm danh thiếp nhét sâu, chỉ ló ra một góc.
Tôi rút ra. Giấy cứng, in màu vàng, chữ đỏ, mép đã sờn.
"Thầy Chín Miên. Chuyên ngải buôn may bán đắt, ngải giữ khách, ngải hoà hợp vợ chồng. Có tới không có lui. Tịnh Biên, An Giang." Bên dưới là một số điện thoại di động.
Tôi bấm số bằng cái điện thoại Nokia của mình. Đầu dây báo số máy quý khách vừa gọi tạm thời không liên lạc được. Tôi gọi ba lần, lần nào cũng vậy. Tôi chép số vô một tờ giấy, nhét tấm danh thiếp lại đúng chỗ cũ.
Tôi lên gác. Côn trùng ngoài bờ kè im, mùi hồi quế bò lên, nồi dưới bếp lại lục bục. Tôi đã quen tới mức nghe tiếng sôi mà không còn run, chỉ thấy bụng cồn cào. Tôi nằm nhắm mắt, nghĩ tới cô Diệp, nghĩ tới chú Hai Lựu mất xe.
Rồi cửa sắt rít lên.
Tôi bật dậy. Cửa sắt kéo lên chừng nửa thước, một người cúi lom khom chui vô, rồi kéo cửa xuống. Ánh đèn trái đào đỏ chiếu lên cái lưng gầy, cái áo thun rộng thùng thình. Là ông Ba.
Ông không bật đèn. Ông đi thẳng vô bếp, chân không, bước như người say ngủ. Ông với cái chén trên nóc tủ, chén còn nguyên chén nước lèo sáng nay, chưa cạn. Ông đứng sững, nhìn chén nước lèo đầy trong tay, mắt mở mà không có ai ở trong đó.
Rồi ông đi tới cái bàn góc. Ông đặt chén lên bàn, đẩy nhẹ qua phía chiếc ghế trống đối diện.
"Anh Sáu," ông nói, giọng đặc như người nói mớ. "Anh còn ngồi đây chờ cái gì nữa? Anh ăn đi rồi anh đi giùm tui."
Cái ghế trống đối diện ông Ba từ từ kéo ra phía sau, chân ghế nhựa cà trên gạch bông mới, kêu một tiếng dài.