Chương 6: Hai tờ giấy vàng
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi không thấy ai ngồi xuống cái ghế đó. Tôi chỉ thấy ông Ba ngồi một lúc, gật đầu mấy cái như đang nghe, rồi đứng dậy, chui ra cửa sắt, kéo xuống, đi về. Sáng hôm sau chén nước lèo trên bàn góc đã cạn, có vệt mỡ cong ở miệng sứt. Còn ông Ba tới quán như mọi bữa, múc chén đầu nồi, không có vẻ gì nhớ chuyện đêm qua.
Trưa đó tôi hỏi thẳng, lúc ông ngồi nghỉ trên ghế đẩu.
"Chú Ba, anh Sáu là ai vậy chú?"
Ông ngẩng lên. Mắt ông đục, nhưng có một cái gì đó chạy qua trong mắt, nhanh như con cá quẫy dưới nước đục.
"Sáu nào? Tao hổng quen ai tên Sáu."
"Tối qua chú ra quán. Chú nói chuyện với anh Sáu ở cái bàn góc."
Ông nhìn tôi lâu. Rồi ông đứng dậy, đi vô bếp, khuấy nồi. Ông nói, lưng quay về phía tôi:
"Con nằm chiêm bao. Lo làm đi."
Chiều thứ Hai quán đóng nửa buổi để ông Ba đi chợ mối mua xương. Dì Ba theo ông. Tôi ở lại một mình rửa nồi.
Tôi rửa xong cái nồi lớn, úp lên kệ. Tôi đứng nhìn cái hũ men xanh treo trong giỏ mây, lần đầu tiên nhìn nó gần trong ánh sáng ban ngày. Men xanh lam sẫm như màu nước sông lúc trời sắp mưa. Những đường rạn chân chim chạy khắp thân hũ, chỗ dày chỗ thưa. Lớp sáp ong bít miệng hũ có những vết lõm nhỏ li ti, như dấu răng.
Tôi bắc ghế đẩu, leo lên. Tay tôi run. Tôi tháo cái giỏ khỏi cây đinh, ôm xuống. Cái hũ nặng hơn tôi nghĩ, nặng như có nước bên trong, nhưng lắc thì không nghe óc ách.
Tôi lấy con dao nhỏ gọt trái cây, lách từ từ quanh mép sáp. Sáp mềm, hơi ấm, như đã nằm trong lòng bàn tay ai lâu. Mùi bốc ra không phải mùi đất, mùi thuốc bắc như tôi tưởng. Là mùi nước lèo. Hồi, quế, xương hầm, khô mực, ngọt tới tận cuống họng.
Bên trong lót mấy lớp lá chuối khô. Giữa lá chuối là một củ ngải cỡ ngón tay cái, đen thui, teo tóp, da nhăn nheo như trái táo tàu phơi khô. Trên đầu củ ngải nhú ra một cái mầm trắng nõn, dài cỡ một đốt tay, non tới nỗi thấy được gân trong.
Củ ngải đen teo mà cái mầm thì non. Tôi nhìn cái mầm, nghĩ nó đang lớn, nghĩ nó lớn bằng cái gì.
Dưới đáy, kẹp giữa hai lớp lá chuối, có hai tờ giấy vàng gấp tư. Loại giấy vàng mỏng người ta in bùa, mép đã ngả nâu.
Tờ nằm trên còn mới, chữ viết bằng mực tàu. Một dòng chữ Việt: "Lê Văn Thạnh. Bính Thân. Giờ Dần." Dưới đó là ba dòng chữ ngoằn ngoèo, tròn tròn như những vòng nước, tôi đoán là chữ Miên. Cuối tờ có một dấu điểm chỉ bằng mực đỏ. Ngón cái, đường vân xoáy.
Tờ nằm dưới cũ hơn nhiều, mực đã phai thành màu nâu như nước trà. Tôi phải nghiêng ra ánh sáng mới đọc được. "Trần Văn Bình. Mậu Tý. Lò bánh Phước Bình, chợ Cai Lậy." Cũng ba dòng chữ Miên. Cũng một dấu ngón cái mực đỏ, đã loang.
Tôi ngồi bệt dưới nền gạch bông, hai tờ giấy trên đùi. Tôi nghĩ thầy Chín cần tên tuổi người nuôi thì ngải mới biết ai là chủ, như người ta khấn phải xưng tên. Tôi nghĩ ông Trần Văn Bình là người nuôi trước, ở Cai Lậy. Tôi nghĩ tới ông già vai lấm tấm bột. Lò bánh. Bột mì.
Anh Sáu.
Tôi gấp hai tờ giấy lại đúng nếp, kẹp vô lá chuối như cũ. Tôi lấy một cây đèn cầy trắng trong ngăn tủ thờ, hơ cho chảy, nhỏ sáp vô mép hũ, miết lại bằng ngón tay. Sáp đèn cầy trắng, sáp ong vàng, chỗ trám nhìn kỹ là thấy. Tôi treo cái giỏ lên đinh, sửa cho nó lơ lửng đúng một gang tay.
Tôi vừa bước xuống ghế đẩu thì sau lưng có tiếng ghế nhựa dịch trên gạch.
Tôi quay lại. Ông già đó ngồi ở bàn góc. Ban ngày. Nắng chiều xiên qua cửa sắt chiếu lên vai ông, lớp bột trắng trên vai lấp lánh như bụi phấn. Lần đầu tôi thấy rõ mặt ông dưới ánh sáng. Mắt ông không đục như ông Ba, mà trong veo, ướt, như người sắp khóc.
Ông nhìn cái chén sứ viền xanh tôi vừa nhấc xuống để leo ghế, giờ đang nằm trên nóc tủ thờ, lệch khỏi chỗ cũ.
"Con đừng múc dùm nó," ông nói. Giọng khàn, chậm. "Ai múc thì nó ăn người đó. Con đừng."
Tôi đứng chết trân. Tôi nghe tiếng xe máy dừng ngoài cửa, tiếng dì Ba nói gì đó. Tôi chớp mắt, bàn góc trống. Trên mặt bàn inox có một vòng bột mịn.
Ông Ba bước vô, tay xách bao xương. Ông nhìn bàn góc, nhìn tôi, rồi ngước lên cái hũ. Mắt ông dừng ở mép hũ, chỗ sáp trắng lẫn sáp vàng. Ông thả bao xương xuống đất.
Ông đi tới, giật cái chén sứ trên nóc tủ. Tay ông run, chén va vào cạnh tủ, một miếng sứ nhỏ văng ra, rơi lách cách trên gạch. Miệng chén giờ sứt hai chỗ.
"Mày mở nó ra hả?" Ông nắm cổ tay tôi, bàn tay gầy mà siết như cái kìm. "Mày muốn chết hả Ngân? Mày muốn nó ăn mày luôn hả?"
Dì Ba chạy lại gỡ tay ông. Ông buông tôi ra, ngồi phịch xuống ghế đẩu, ôm cái chén sứt vô ngực. Ông thở hồng hộc như người vừa chạy.
Câu ông nói còn treo lơ lửng trong đầu tôi. Nó ăn mày luôn. Luôn, nghĩa là nó đang ăn ai rồi.