Chương 4: Trống cái ở đình
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Sáng ra tôi lách ra hiên xem tấm da. Da còn tươi, chưa khô được, chẳng nứt được. Nhưng trên mặt da có ba vết loang sẫm màu, ba vòng tròn to bằng cái chén, xếp theo một đường chéo từ giữa ra mép khung. Tâm, lưng, tang. Mái hiên ngay trên đầu khô cong, không một giọt sương nào đọng.
Tôi lấy giẻ thấm ba vết ấy. Thấm mãi không hết, như nước đã ngấm vào thớ da.
Hôm ấy tôi ra đình. Tôi muốn nhìn tận mắt cái trống mình sắp thay da.
Đình Đọi Ngoại nằm giữa làng, quay mặt ra cái ao bán nguyệt, mái cong, cột lim to một người ôm không xuể. Sân đình lát gạch Bát Tràng, mấy cây đại già trụi lá rụng hoa trắng khắp sân. Ông thủ từ là ông Cò, người làng gọi thế vì ông cao lêu nghêu, cổ dài. Ông bảy mươi tư, đi chân đất, tay cầm chùm chìa khoá buộc dây dù.
Trống cái đặt trên giá gỗ ở gian bên tả, phủ tấm vải điều đã bạc màu. Ông Cò lật vải ra cho tôi xem. Tôi đứng im.
Tang trống làm bằng gỗ mít, ghép từ hàng chục mảnh, đai bằng mây, cao ngang ngực tôi. Mặt da rộng hơn một sải tay, màu ngà ngả nâu, mịn như mặt giấy cũ. Hai vòng đinh tre quanh mép đều tăm tắp, chiếc nào cũng cắm cùng một góc. Mười lăm năm mà không một chiếc nào bật lên. Tay thợ cả.
Tôi xin phép đặt tay lên mặt da. Da hơi chùng thật, ấn xuống thấy lún. Nhưng không nứt, không mốc, không một vết sâu ăn. Tôi khum ngón tay giữa, gõ khẽ ba cái theo nhịp tôi nghe trong mơ. Tâm, lưng, tang.
Tiếng trầm, đục, như từ dưới đất vọng lên. Đục thật. Nhưng ở dưới cái đục ấy có một cái gì vẫn còn sống, một cái ngân rất dài, rất thấp, chạy vòng quanh tang rồi mới tắt. Da chết không ngân như thế.
Ông Cò nhìn tay tôi, rồi nhìn mặt tôi.
"Anh gõ y nhịp cụ Lãm. Ai dạy anh đấy?"
Tôi không biết trả lời thế nào. Tôi nói tôi nghe thợ trong xưởng kể. Ông Cò không tin, tôi biết, nhưng ông không hỏi nữa. Ông vuốt mặt da như vuốt lưng một con vật.
"Da này phơi trong râm bốn mươi ngày ở sân nhà cụ Lãm. Ngay dưới cây nhãn. Hai bố con nhà ấy thay nhau trông, đêm cũng trông, sợ mèo chó cào. Trâu nhà ấy đấy. Cả làng biết con trâu ấy."
Tôi hỏi trâu thế nào. Ông Cò mở miệng định nói thì ngoài cổng có tiếng xe đạp. Ông Hiển dựng xe, bước vào, mũ cối cầm tay. Ông Cò phủ lại tấm vải điều, lùi ra sau cột.
Ông Hiển hỏi tôi da phơi đến đâu rồi. Tôi nói đang phơi trong râm, chậm hơn. Rồi tôi liều kể chuyện giấc mơ. Tôi kể ngắn, chỉ nói cụ Lãm về dặn đừng thay da trống đình.
Ông Hiển cười, cười không ác, chỉ như người lớn nghe trẻ con kể chuyện.
"Anh ở xa về chưa biết. Cụ Lãm sống thì cụ là người đầu tiên đòi thay. Cụ khó tính lắm, trống chùng một tí là cụ khó chịu cả tuần. Mười hai tháng Hai là tháo, ban khánh tiết chọn ngày rồi. Anh cứ làm cho tốt."
Ông đi rồi, ông Cò mới bước ra khỏi cột. Ông đứng nhìn cái trống phủ vải, nói một câu rất khẽ, như với cái trống:
"Cụ khó tính thật. Nhưng mười lăm năm nay cụ có cho ai động vào cái trống này đâu."
Đêm ấy tôi không về gian nhà ngang. Tôi nói dối anh Quý là muốn ngủ lại xưởng trông mấy tấm da mới nhập. Tôi trải chiếu trên đống bao tải cạnh bể ngâm, đắp áo bông, nằm nghe chó làng sủa. Mùi vôi, mùi da, mùi thuốc lào thợ hút để lại. Tôi muốn biết một điều: cụ đi theo tôi, hay cụ ở lại chỗ cái giường.
Tôi ngủ một mạch đến sáng. Không mơ gì.
Lần đầu tiên từ hôm về làng, tôi tỉnh dậy mà người không lạnh. Tôi nằm thêm một lúc trên đống bao tải, nhìn mái tôn sáng dần, thấy nhẹ cả người. Rồi tôi nghĩ đến cái giường xoan trống không, và cái nhẹ ấy tự dưng đổi thành cái gì đó khó chịu.
Tôi về nhà cụ lúc mặt trời vừa lên khỏi rặng tre. Bà Nhẫn đang ngồi rửa rau ở bể nước. Thấy tôi, bà ngẩng lên.
"Đêm qua anh không về à?"
Tôi nói tôi ngủ ở xưởng.
Bà nhìn tôi, rồi nhìn sang gian nhà ngang. Tay bà vẫn ngâm trong chậu rau, không vớt lên.
"Thế mà tôi nghe trong ấy có người gõ trống con. Ba tiếng một. Cả đêm. Tôi tưởng anh."
Tôi lách qua tấm da căng ngoài hiên, vào gian. Giường vẫn trải chiếu như tôi để. Nhưng giữa giường có một vết lõm, như có người vừa nằm nghiêng, quay mặt ra cửa. Cái dùi nằm trên gối. Gối ướt đẫm, ướt đến mức tôi ấn tay xuống, nước rỉ ra qua kẽ ngón.